vanban.org

Bản án 41/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 25/06/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016

Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh C đối với chị Nguyễn Ngọc Anh C và chị Nguyễn Ngọc Kim N được ly hôn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2020/HNGĐ-ST
Ngày 25-6-2020
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Tiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Thị Kiều Dung;

2. Ông Nguyễn Trung Sâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Sinh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh,

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 161/2019/TLST–HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2020/QĐXX-ST ngày 08 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh C, sinh năm 1975; Địa chỉ: khóm 013, phường

Hoa T, khu Vạn H, thành phố Đ, Đài Loan. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Ngọc Kim N, sinh năm 1994; Địa chỉ: Ấp

Long Hòa, xã Long Chữ, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30-10-2019 và bản tự khai ngày 30-10-

2019 của anh C trình bày:

Anh và chị Nguyễn Ngọc Kim N tự nguyện chung sống có đăng ký kết

hôn vào ngày 20-11-2018 tại Ủy ban nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, tính tình và cách sống không phù hợp. Anh ở Đài Loan, chị N ở Việt Nam. Anh và chị N không còn sống chung và cũng không còn liên lạc với nhau. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Ngọc Kim N.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu

Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu

quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách

những người tham gia tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã thực

hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo đúng thành phần Hội đồng xét xử, phạm vi xét xử, trình tự thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của

anh C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa,

kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh C có đề nghị xét xử vắng mặt; Trong quá trình giải

quyết vụ án, xác minh tại đại phương thể hiện chị Nguyễn Ngọc Kim N không có ở địa phương, chị N đi đâu, làm gì địa phương không biết do không khai báo với chính quyền địa phương. Do đó, Tòa án tiến hành tống đạt giấy triệu tập và các văn bản tố tụng cho chị N theo thủ tục niêm yết công khai để giải quyết vụ án và xét xử vắng mặt chị Nguyễn Ngọc Kim N, anh C theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét đơn khởi kiện của anh C thấy rằng: anh C và chị Nguyễn Ngọc

Kim N tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo pháp luật Việt Nam nên quan hệ hôn nhân anh chị là hợp pháp được pháp luật Việt Nam công nhận và bảo vệ. Anh chị chung sống trong thời gian ngắn, không hạnh phúc do bất đồng về ngôn ngữ; tính tình và cách sống không phù hợp. Như vậy mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh C đối với chị Nguyễn Ngọc Kim N là có căn cứ quy định tại Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: anh C trình bày không có

nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Anh C phải chịu 300.000 đồng theo quy định Điểm a

khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27

của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh C đối với chị Nguyễn Ngọc

Kim N.

Anh C và chị Nguyễn Ngọc Kim N được ly hôn

2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: anh C trình bày không có.

3. Về án phí: Anh C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh C đã nộp theo biên lai thu số 0001177 ngày 18-12-2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, ghi nhận đã nộp xong.

Anh C có quyền làm đơn kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp

cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 01 tháng, chị Nguyễn Ngọc Kim N được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo qui định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ