vanban.org

Bản án 41/2020/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp hợp đồng hụi đối với bị đơn bà Lê Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T.

Buộc bị đơn bà Lê Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc B số tiền 45.322.112 đồng gồm tiền vốn 40.000.000 đồng và lãi 5.322.112 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị Ngọc B - Lê Thị Hết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp hợp đồng hụi đối với bị đơn bà Lê Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH TRỊ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2020/DS-ST
Ngày: 25-9-2020
V/v tranh chấp hợp đồng
hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Tấn Nga.

2. Ông Nguyễn Thành Dân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2020/TLST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2020/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp D, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị N, sinh năm 1981 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp N, thị trấn L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

Theo giấy ủy quyền ngày 27/5/2020.

- Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1967 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp M, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/5/2020 và trình bày của bà Võ Thị N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc B, vụ án có nội dung được tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện bà B yêu cầu buộc bà H và ông T có nghĩa vụ trả số tiền hụi còn nợ của hai dây hụi là 101.726.000 đồng, gồm vốn 75.000.000 đồng, lãi chậm trả của 02 dây hụi là 26.726.000 đồng. Cụ thể: Hụi tháng mức 1.000.000 đồng, mở ngày 15/01/2015 âl yêu cầu tiền của 05 lần hụi là 5.000.000 đồng. Hụi 06 tháng mức hụi 10.000.000 đồng, mở ngày 09/01/2015 âl có 11 phần, bà H tham gia 01 phần và hốt hụi kỳ đầu tiền, đóng hụi chết được 03 lần thì ngưng, dây hụi mãn vào ngày 09/01/2020 và bà H còn nợ 07 lần hụi là 70.000.000 đồng.

Quá trình làm việc và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần đơn khởi kiện đối với yêu cầu của hụi tháng mức 1.000.000 đồng và một phần của hụi 06 tháng mức hụi 10.000.000 đồng. Bà B yêu cầu buộc bà H và ông T trả tiền 04 kỳ hụi chết (kỳ thứ 8 đến thứ 11) của dây hụi 10.000.000 đồng, mở ngày 09/01/2015 âl là 40.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật 0,83%/tháng, tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ giao tiền hụi.

Bị đơn bà Lê Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan T vắng mặt, quá trình giải quyết không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm nghị án, Hội đồng xét xử, thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về buộc bà H và ông T liên đới hoàn trả cho nguyên đơn tiền hụi là 40.000.000 đồng, lãi và án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng hụi đối với bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án dân sự và giải quyết là đúng theo qui định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập hợp lệ nhưng cả hai lần mở phiên tòa bị đơn và ông T đều vắng mặt không lý do, nguyên đơn và Kiểm sát viên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn. Theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.

Về nội dung: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần đơn khởi kiện đối với yêu cầu của hụi tháng mức 1.000.000 đồng và một phần của hụi 06 tháng mức hụi 10.000.000 đồng đến kỳ hụi lần thứ 7. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện nêu trên của nguyên đơn là tự nguyện và nội dung tranh chấp này đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật, riêng yêu cầu còn lại đối với 04 kỳ hụi chết (kỳ thứ 8 đến thứ 11) của dây hụi 10.000.000 đồng, mở ngày 09/01/2015 âl và lãi là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc rút một phần đơn khởi kiện và đình chỉ giải quyết theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của bà B về 04 kỳ hụi của dây 10.000.000 đồng, mở ngày 09/01/2015 âl thì thấy: Hụi có 11 phần, một năm mở hụi hai lần vào ngày 09/01 và 09/6, bà H tham gia 01 phần và nhận tiền hụi kỳ đầu tiền, hụi đã kết thúc vào ngày 09/01/2020 âl. Năm 2016 và 2018, nguyên đơn B đã khởi kiện bà H đối với dây hụi này và cung cấp biên nhận giao tiền hụi do bà H ký tên, trong quá trình giải quyết Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị tiến hành ghi lời khai (bút lục 47) thì bà H thừa nhận có tham gia dây hụi trên và có nợ tiền hụi bà B. Tại bản án số 52/2018/DS-ST, ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị (bút lục 41-42) buộc bà H trả cho bà B số tiền hụi đến kỳ thứ 7, nay nguyên đơn yêu cầu buộc bà H trả từ kỳ thứ 8 đến kỳ 11 đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn về tranh chấp tiền hụi chết 04 kỳ là 40.000.000 đồng đối với bà H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nghĩa vụ liên đới: Giữa bà H và ông T là vợ chồng, số nợ này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên đây là nợ chung. Theo quy định tại Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xác định số nợ này là nghĩa vụ chung của bà H và ông T.

Về lãi suất: Hụi các bên tham gia là hụi có lãi, bên chậm thực hiện nghĩa vụ phải trả lãi theo quy định pháp luật. Theo quy định tại các Điều 468, 471 Bộ luật dân sự thì yêu cầu của nguyên đơn buộc bà H và ông T trả lãi theo quy định pháp luật 0,83%/tháng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn.

Người đại diện nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày bị đơn vi phạm nghĩa vụ. Cụ thể: Kỳ thứ 8 mở là ngày 09/6/2018 âl (21/7/2018 dl), giao nhận tiền ngày 09/7/2018 âl (19/8/2018 dl); kỳ thứ 9 là ngày 09/01/2019 âl (13/02/2019 dl), giao nhận tiền ngày 09/02/2019 âl (14/3/2019 dl); kỳ thứ 10 là ngày 09/6/2019 âl (11/7/2019 dl), giao nhận tiền ngày 09/7/2019 âl (09/8/2019 dl); kỳ thứ 11 là ngày 09/01/2020 âl (02/02/2020 dl), giao nhận tiền ngày 09/02/2020 âl (02/3/2020 dl).

Như vậy, Hội đồng xét xử tính lãi cụ thể như sau:

Tiền lãi của kỳ thứ 8 tính từ ngày 19/8/2018 đến ngày 25/9/2020 là 2.099.962 đồng (10.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 02 năm 01 tháng 06 ngày)

Tiền lãi của kỳ thứ 9 tính từ ngày 14/3/2019 đến ngày 25/9/2020 là 1.530.547 đồng (10.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 01 năm 06 tháng 11 ngày)

Tiền lãi của kỳ thứ 10 tính từ ngày 09/8/2019 đến ngày 25/9/2020 là 1.127.732 đồng (10.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 01 năm 01 tháng 16 ngày)

Tiền lãi của kỳ thứ 11 tính từ ngày 02/3/2020 đến ngày 25/9/2020 là 563.871 đồng (10.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 06 tháng 23 ngày)

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, theo quy định bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Qua phân tích như trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện Thạnh Trị là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Áp dụng Điều 288; Điều 468; Điều 471 Bộ luật Dân sự. Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp hợp đồng hụi đối với bị đơn bà Lê Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T.

Buộc bị đơn bà Lê Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Ngọc B số tiền 45.322.112 đồng gồm tiền vốn 40.000.000 đồng và lãi 5.322.112 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về hụi 1.000.000 đồng mở ngày 15/01/2015 âl và hụi 10.000.000 đồng, mở ngày 09/01/2015 âl đến kỳ hụi lần thứ 7.

2. Về án phí:

Bị đơn bà Lê Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.266.105 đồng.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B không phải chịu án phí và được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.175.000 đồng theo biên lại thu số 0003197 ngày 23/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại UBND nơi cư trú) để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ