vanban.org

Bản án 41/2020/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kều: Buộc bà Lê Thị H có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 20.

Kể từ ngày bà Trần Thị K có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Lê Thị H còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với thời gian chậm thi hành án. 2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Lê Thị H phải chịu 1.000.000 đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Trần Thị K - :Lê Thị H"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kều: Buộc bà Lê Thị H có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 20.
  • Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2020/DS - ST
Ngày: 06/8/2020.
“V/v: Tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Triều Vũ Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Quyết Chiến.

2. Bà Trần Thị Thanh Nhanh.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Bích – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2020, tại Hội trường xét xử – Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tiến hành mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2020/TLST – DS ngày 19 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp hđồng góp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2020/QĐXXST - DS ngày 20 tháng 7 năm 2020; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị K, sinh năm 1970; địa chỉ: 87 Ấp L, xã L, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1965; địa chỉ: 137 Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/5/2019 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị K trình bày:

Bà Kcó làm chủ dây hụi 2.000.000 đồng khui hàng tháng, bà H có tham gia dây hụi với số tiền 2.000.000 đồng/ chân, gồm 21 thành viên. Hụi khui ngày 15/06/2018 và kết thúc vào ngày 15/02/2020. Sau khi ra thăm đầu, bà H đóng lần hai và hốt với số tiền 29.360.000 đồng. Bà H đóng được 10 lần, còn 10 lần không đóng và nợ lại với số tiền 20.000.000 đồng.

Nay bà Kyêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Phú giải quyết: Buộc bà Lê Thị H có trách nhiệm thanh toán số tiền hụi còn nợ lại là 20.000.000 đồng và yêu cầu thanh toán một lần.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/6/2020, bà Lê Thị H trình bày: Bà thừa nhận có thiếu bà K số tiền hụi là 20.000.000 đổng. Bà đồng ý trả cho bà K số tiền 20.000.000 đồng chia làm ba lần, cụ thể:

+ Lần 1: Tháng 10/2020 trả 6.000.000 đồng; trả tại nhà bà K.

+ Lần 2: Tháng 01/2021 trả 6.000.000 đồng; trả tại nhà bà K.

+ Lần 3: Tháng 04/2021 trả 8.000.000 đồng; trả tại nhà bà K.

Nếu bà K không đồng ý thì bà sẽ bán đất trả cho bà K.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Trần Thị K yêu cầu bà Lê Thị H hoàn trả cho bà số tiền hụi còn thiếu là 20.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Lê Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, 235 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà H.

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm hoàn trả một lần số tiền nợ hụi 20.000.000 đồng. Bị đơn cũng thừa nhận có nợ nguyên đơn số tiền này. Căn cứ vào Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tình tiết không phải chứng minh. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả 20.000.000 đồng là có căn cứ.

Bị đơn bà H cũng xin được trả dần số tiền 20.000.000 đồng, nhưng phía nguyên đơn không đồng ý. Do đó, HĐXX không có cơ sở xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Lê Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Trần Thị K không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 và Điều 30 Nghị định số 144/2006/NĐ – CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kều: Buộc bà Lê Thị H có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bà Trần Thị K có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Lê Thị H còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Lê Thị H phải chịu 1.000.000 đồng (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Trần Thị K không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Trần Thị K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 500.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003644 ngày 14/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4/ Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ