- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Bá H phạm tội " Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Đinh Bá H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2019/HSST Ngày: 16/08/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH - TỈNH B
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quế và Bà Vũ Thị Lan Anh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Th.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 16/08/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Th mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2019/TLST - HS ngày 03/72019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐXXST - HS ngày 29/07/2019, đối với bị cáo:
Đinh Bá H, sinh năm 1969.
Trú tại: Thôn D, xã X, huyện Th, tỉnh B. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Bá M, sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1940; Có vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1970; Con có 01 con sinh năm 1989; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 03 tiền án.
Tại bản án số: 24 ngày 26/6/2013 TAND huyện Th, tỉnh B xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt chính ngày 12/01/2015 và toàn bộ các quyết định khác của bản án.
Tại bản án số: 30 ngày 21/6/2016 TAND huyện Th, tỉnh B xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt chính ngày 20/01/2017 và toàn bộ các quyết định khác của bản án.
Tại bản án số: 46 ngày 16/8/2017 TAND huyện Th, tỉnh B xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt chính ngày 26/01/2018 và toàn bộ các quyết định khác của bản án.
Nhân thân: Ngày 23/11/2010, Đinh Bá H bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại trung tâm giáo dục dạy nghề tỉnh B theo Quyết định số: 662/QĐCT của UBND huyện Th, tỉnh B thời gian 24 tháng. H chấp hành xong ngày 23/11/2012.
Ngày 03/02/2016, bị Công an huyện Th, tỉnh B xử phạt vi phạm hành chính đối với Đinh Bá H bằng hình thức “phạt tiền”, với số tiền là 2.000.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong ngày 03/02/2016.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2019 đến ngày 24/4/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
Ngày 07/08/2019 Bị cáo bị bắt tạm giam theo lệnh tạm giam của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Th trong một vụ án khác. (Có mặt tại phiên toà)
Người bị hại: Anh Nguyễn Đăng Ph - Sinh năm 1987.
Trú tại: Thôn D, xã X, huyện Th, tỉnh B.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1. Anh Nguyễn Mậu D, sinh năm 1979. ( vắng mặt)
2. Chị Đinh Thị L, sinh năm 1983. (Có mặt)
Cùng trú tại: Thôn D, xã X, huyện Th, tỉnh B.
3. Anh Doãn Đăng M, sinh năm 1966. (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn G, xã K, huyện G, thành phố H.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 11/4/2019, Đinh Bá H đi bộ từ nhà sang nhà Nguyễn Mậu D chơi. Khoảng 01 giờ ngày 12/4/2019, H rủ D đi bộ quanh thôn xem có nhà nào để tài sản sơ hở thì trộm cắp, D đồng ý. Khi đi đến nhà anh Nguyễn Đăng Ph thấy nhà anh Ph đã tắt điện đi ngủ. Lúc này, D bảo H “vào đây xem có gì không để lấy”, H đồng ý. Sau đó, H và D trèo tường vào trong sân nhà anh Ph rồi đi lục tìm tài sản. H thấy 01 chiếc máy khoan bắn vít không rõ nhãn hiệu có dây điện, phích cắm màu đen và 01 chiếc máy cắt có lưỡi cắt, màu xanh bên ngoài ốp bảo hiểm bằng sắt màu xám hiệu Bosch có dây điện màu vàng, phích cắm màu trắng để trên giá treo tường. H lấy chiếc máy khoan và chiếc máy cắt trên đưa cho D cầm rồi H tiếp tục tìm tài sản nhưng không tìm được tài sản nào khác. Sau đó, H, D cầm theo máy khoan, máy cắt đi ra ngoài và trèo tường đi về nhà D cất giấu. Khoảng 07 giờ cùng ngày, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Angel màu xanh, BKS 18F3 - 4015 chở H cầm theo máy khoan và máy cắt trộm cắp được đi đến Thôn G, xã K, huyện G, thành phố H để bán. H và D vào cửa hàng của anh Doãn Đăng M ở thôn G, xã K bán 02 chiếc máy trên cho anh M được 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền này, H và D đi mua ma túy của một người tên là Q ở thôn G, xã K hết 200.000đ cùng nhau sử dụng hết còn 100.000đ cùng nhau tiêu xài. Khi mua máy của H thì anh M không biết nguồn gốc 02 chiếc máy đó do đâu mà có nên anh M đã bán 01 chiếc máy cắt cho 01 người đàn ông không quen biết được 200.000đ.
Khoảng 16 giờ ngày 14/4/2019, anh Ph phát hiện bị mất máy khoan và máy cắt nên anh xem lại camera của gia đình thì phát hiện vào khoảng hơn 01 giờ ngày 12/4/2019 có 02 nam thanh niên có dáng người giống D và H đột nhập vào gia đình anh trộm cắp tài sản nên anh Ph đã làm đơn trình báo gửi Công an xã X, huyện Th, tỉnh B.
Ngày 15/4/2019 Đinh Bá H đã đến Công an xã X đầu thú. Công an xã X đã triệu tập đối tượng Nguyễn Mậu D lên làm việc và bàn giao hồ sơ cùng 02 đối tượng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Th giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày, anh M biết 02 chiếc máy trên mua của H là do trộm cắp mà có nên anh M đã giao nộp cho cơ quan điều tra 01 chiếc máy cắt và số tiền 200.000đ là tiền bán máy khoan. Còn D đã giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Angel màu xanh, BKS 18F3-4015; 01 đăng ký xe mô tô mang tên Trần Văn T ở xã N, huyện N, tỉnh N.
Ngày 16/4/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Th, tỉnh B yêu cầu định giá tài sản số: 16 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Th xác định trị giá 01 chiếc máy khoan và 01 chiếc máy cắt mà H và D đã trộm cắp của anh Ph.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 15 ngày 19/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Th, tỉnh B kết luận: 01 chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Bosch màu xanh đã cũ có giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 400.000đ ; 01 chiếc máy khoan cầm tay nhãn hiệu Makita màu xanh đã cũ có giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 400.000đ. Tổng trị giá tài sản là 800.000đ.
Do trị giá tài sản bị chiếm đoạt thấp nên anh Ph chỉ yêu cầu được nhận lại chiếc máy khoan mà không yêu cầu H và D phải bồi thường gì thêm. Còn anh M cũng không yêu cầu H và D phải trả số tiền 300.000đ mà anh đã mua hai chiếc máy trên.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Angel, BKS 18F3 - 4015 là phương tiện mà H và D đã sử dụng để mang tài sản trộm cắp đi tiêu thụ là xe của chị Đinh Thị L (là vợ của D) mua năm 2016. Ngày 12/4/2019, chị L không biết D đã sử dụng chiếc xe để đi tiêu thụ tài sản trộm cắp.
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Th, Đinh Bá H, Nguyễn Mậu D đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Cáo trạng số: 37/CTr-VKS ngày 01/07/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Th đã truy tố bị cáo: Đinh Bá H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đinh Bá H khai nhận: Khoảng 01 giờ ngày 12/04/2019, Bị cáo cùng Nguyễn Mậu D đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Bosch và 01 chiếc máy khoan cầm tay nhãn hiệu Makita màu xanh đã cũ của anh Nguyễn Đăng Ph. Sau đó Bị cáo cùng D bán cho anh Doãn Đăng M được số tiền 300.000 đồng lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khi anh Ph phát hiện đã báo Công an, bị cáo đã lên đầu thú khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Cũng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Đinh Bá H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm h Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Bá H từ 10 tháng đến 12 tháng tù.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự không xem xét giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th công bố bản luận tội, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng và lời khai của bị cáo tại phiên tòa. Thể hiện: Khoảng 01 giờ ngày 12/4/2019, Đinh Bá H đã có hành vi trộm cắp tài sản tổng trị giá là 800.000đ; Do bị cáo có 03 tiền án. Hiện chưa được xoá án tích. Do vậy; bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Th truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Đã trực tiếp xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử phạt mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng cũng như giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có 03 tiền án chưa được xoá án tích đến nay lại phạm tội mới; Tuy tài sản trộm cắp được trong vụ án này có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng do 02 bản án trước bị cáo đã bị xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nên đây là tình tiết định tội đối với bị cáo. Do bản án “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích nên ở lần phạm tội này bị cáo chỉ phạm tội thuộc trường hợp tái phạm; đây là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h Điều 52 BLHS. Mặt khác trong thời gian được tại ngoại, bị cáo lại bị tạm giam trong vụ án khác theo Lệnh tạm giam số: 40 ngày 07/08/2019 theo Lệnh tạm giam của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Th. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người khó cải tạo, giáo dục nên cần phải cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã đến Công an xã X đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo đồng thời tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên bi ̣ cáo được hưở ng các tinh tiết giảm
̀ nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa
Ngoài ra, tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự còn quy định phạt tiền đối với người phạm tội. Xét thấy, các bị cáo chỉ là lao động tự do, không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
Trong vụ án này, còn có Nguyễn Mậu D là người cùng thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” với bị cáo. Tuy nhiên, D chưa có tiền án, tiền sự và trị giá tài sản trộm cắp là 800.000đ (dưới 2.000.000đ) nên hành vi trộm cắp tài sản của D chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 12/4/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Th, tỉnh B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với anh Doãn Đăng M là người mua tài sản của H và D nhưng anh M không biết những tài sản này là do phạm tội mà có. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Th, không xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với đối tượng tên là Q theo H khai đã bán ma túy cho H: Cơ quan CSĐT Công an huyện Th đã xác minh tại Công an xã K, huyện G, thành phố H nhưng không xác định được đặc điểm nhân thân của Q như H khai. Vì vậy; Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Th tách hành vi của Q đến khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý là phù hợp
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà hôm nay người bị hại anh Nguyễn Đăng Ph có đơn xin xét xử vắng mặt và anh không yêu cầu bị cáo cũng như đối tượng D phải bồi thường cho anh giá trị tài sản bị chiếm đoạt; xét đây là sự tự nguyện nên cần chấp nhận do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với số tiền 300.000 đồng của anh Doãn Đăng M đã bỏ ra mua tài sản của bị cáo chiếm đoạt được tại phiên toà anh M vắng mặt và có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo cũng như D trả lại cho anh số tiền trên; xét thấy là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử không xem xét;
Về vật chứng: Đối với 01 USB là chứng cứ của vụ án nên cần được lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền 200.000 đ mà anh Doãn Đăng M đã nộp tại cơ quan điều tra, tại phiên toà anh M có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với số tiền anh đã giao nộp anh tự nguyện không nhận lại do vậy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Đối với 01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu BOSCH- GWS6-100 màu xanh đã cũ có dây điện màu vàng, đui cắm màu trắng mà Cơ quan điều tra đã thu hồi nay anh Ph đề nghi được nhận lại; xét thấy đây là tài sản của anh Ph nên cần trả lại anh Nguyễn Đăng Ph là phù hợp.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Angel, BKS 18F3 - 4015 là phương tiện mà H và D đã sử dụng để mang tài sản trộm cắp đi tiêu thụ. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của chị Đinh Thị L (là vợ của D), chị L không biết D đã sử dụng dụng chiếc xe để đi tiêu thụ tài sản trộm cắp. Xét thấy chiếc xe này không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chị Đinh Thị L là phù hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo: Đinh Bá H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Đinh Bá H 10 (Mười tháng tù) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ bắt thi hành án. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/4/2019 đến ngày 24/4/2019.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại chị Đinh Thị L 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGEL màu xanh BKS: 18F3-3415 đã cũ nát. Tình trạng xe bị vỡ yếm, yên xe bị cũ rách bong bật và 01 đăng ký xe mô tô BKS 18F3-3415 mang tên đăng ký Trần Văn T:
Trả lại anh Nguyễn Đăng Ph 01 máy cắt (máy trà) nhãn hiệu BOSCH cầm tay (mặt trước có chữ GW36-100 PROFESSI0N42, mặt sau có số 0601375117, 220-230V, 3.0A670W) màu xanh, dây điện màu vàng, phích cắm màu trắng, đã cũ hoạt động bình thường.
Sung công quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/08/2019 giữa Cơ quan điều tra với Chi cục THA huyện Th)
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo: Đinh Bá H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt án vắng mặt hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B; - VKSND huyện Th; - CA huyện Th; - Chi cục THADS huyện Th; - Bị cáo; Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Nguyễn Huy Tuấn |