vanban.org

Bản án 41/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Điểm khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 41/2019/HS-ST
Ngày: 27 - 02 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Minh Quang;

2. Bà Tôn Thị Ngọc Sang.

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, là Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 35/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn C (tên thƣờng gọi: E), sinh năm 1997 tại Campuchia; nơi cƣ trú: Ấp B4, xã P, huyện D, tỉnh N; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị B (đã chết); bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc T1 và 01 (một) ngƣời con sinh năm 2016.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 13/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh G xử phạt 01 (một) năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo bản án số 17/2017/HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 07/02/2018.

Bị bắt, tạm giam ngày 03/10/2018 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trần Văn H, sinh năm 1990; trú tại: Ấp 8, xã L, thị xã M, tỉnh H. Vắng mặt.

Ngƣời làm chứng: Ông Nguyễn Hoài T2, sinh năm 1999; trú tại: 146D ấp A, xã S, thị xã T, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 ngày 23/9/2018, Trần Văn C ngồi uống bia cùng với ông Trần Văn H và ông Nguyễn Hoài T2 tại nhà ông T2 tại địa chỉ số 146D, ấp A, xã S, thị xã T, tỉnh B. Trong lúc uống bia, ông H có hỏi mƣợn 2.000.000 đồng để đóng tiền học cho con nhƣng mọi ngƣời không có thì C nói sẽ chở H đến nhà ngƣời quen để hỏi mƣợn tiền. Đến khoảng 15 giờ 00 cùng ngày, ông H giao xe môtô hiệu Honda, kiểu dáng Vision biển số 95B1-597.57 cho C điều khiển chở ông H đến nhà ngƣời quen ở xã A để mƣợn tiền nhƣng không có. Trần Văn C tiếp tục điều khiển xe môtô chở ông H đến khu phố Thạnh Bình, phƣờng A, thị xã Thuận An để gặp ngƣời quen của C (không rõ nhân thân, lai lịch) để mƣợn tiền. Lúc này, C nảy sinh ý đoạt chiếm đoạt xe môtô của ông H nên khi đến đoạn đƣờng nhánh từ đƣờng Hồ Văn M vào khu sản xuất A khoảng 50m thuộc khu phố B, phƣờng A, thị xã Thuận An, C nói dối với H là H xuống xe đợi để C vào nhà ngƣời quen mƣợn tiền giúp H. Sau khi để H xuống xe, C điều khiển xe môtô biển số 95B1-597.57 chạy đến khu vực cửa khẩu M, tỉnh N, bán xe môtô cho một thanh niên tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 6.000.000 đồng và tiêu xài hết số tiền trên. Ngày 02/10/2018, ông H gặp C đang ở khu vực xã A, thị xã B1, tỉnh B nên đã đến Công an xã A, thị xã B trình báo. Ngày 03/10/2018 Trần Văn Cát bị bắt.

Vật chứng thu giữ: Không thu hồi đƣợc.

Tại Biên bản định giá tài sản và Kết luận định giá tài sản ngày 11/10/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Thuận An kết luận: Chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đỏ - đen, số khung 5812GY877758, số máy JF66E0867526, biển số 95B1-597.57 có trị giá là 29.000.000 đồng (Hai mƣơi chín triệu đồng).

Tại Cáo trạng số: 42/CT-VKSTA ngày 18/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn C từ tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo C có trách nhiệm bồi thƣờng cho ông Trần Văn H số tiền 29.000.000 đồng (Hai mƣơi chín triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 23/9/2018, do có ý định chiếm đoạt xe môtô của Trần Văn H nên C giả vờ nói dối để H giao chiếc xe môtô biển số 95B1-597.57 cho C đi vào nhà ngƣời quen mƣợn tiền giúp H. Sau khi nhận đƣợc xe, C điều khiển xe chạy đến khu vực cửa khẩu M, tỉnh N, bán với giá 6.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Ngày 02/10/2018, ông H gặp C đang ở khu vực xã A, thị xã B1, tỉnh B nên đã đến Công an xã A, thị xã B trình báo. Ngày 03/10/2018 Trần Văn C bị bắt.

Hành vi của bị cáo dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của ông Trần Văn H chiếc xe môtô trị giá 29.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại; gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi chiếm đọat tài sản ngƣời khác trái phép là vi phạm pháp luật nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi, muốn có tiền tiêu xài nhƣng lƣời lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tuy nhiên, bị cáo C có nhân thân xấu từng bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh G xử phạt 01 (một) năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo bản án số 17/2017/HSST ngày 13/6/2017. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 07/02/2018, nhƣng do thời điểm này bị cáo C phạm tội chƣa đủ 16 tuổi nên không tính để xác định tái phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu đỏ - đen, số khung 5812GY877758, số máy JF66E0867526, biển số 95B1-597.57 thuộc sở hữu của ông Trần Văn H. Sau khi chiếm đoạt xe bị cáo đã bán chiếc xe này cho một ngƣời thanh niên không rõ nhân thân lai lịch tại khu vực cửa khẩu M, tỉnh N với giá 6.000.000đ và tiêu xài hết. Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Thuận An đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhƣng không hồi đƣợc. Ông H yêu cầu bị cáo C có trách nhiệm thanh toán lại trị giá chiếc xe theo kết quả định giá số tiền là 29.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý yêu cầu bồi thƣờng của bị hại H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với đối tƣợng mua chiếc xe môtô biển số 95B1-597.57 do bị cáo C chiếm đoạt mà có, quá trình điều tra chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên khi nào xác định sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự;

- Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017); Khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Trần Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Trần Văn C có trách nhiệm bồi thƣờng cho ông Trần Văn Hiện số tiền là 29.000.000 đồng (Hai mƣơi chín triệu đồng).

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành cho đến khi thi hành xong, nếu ngƣời phải thi hành án chậm thi hành, thì còn phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

3. Về án phí:

Bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.450.000 đồng (Một triệu bốn trăm năm mƣơi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ