vanban.org

Bản án 41/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ph t: Bị cáo Huỳnh Dương L (tên gọi khác: Nông, Cà Nông) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời h n tù tính kể từ ngày 19/11/2018.

Về hình ph t bổ sung: Không ph t bổ sung đối với bị cáo Huỳnh Dương L (tên gọi khác: Nông, Cà Nông). Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều: 584, 585, 586, 589, 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng Luật Thi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "41 -2019 - Huynh Duong L K1-173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử ph t: Bị cáo Huỳnh Dương L (tên gọi khác: Nông, Cà Nông) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời h n tù tính kể từ ngày 19/11/2018.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2019/HS-ST
Ngày: 13 – 3 – 2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Năm.

2/ Bà Nguyễn Thị Kính.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Duy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 3 năm 2019, t i tr s Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 28/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2019, theo quyết định đưa v án ra xét xử số 47/2019/QĐXXST-HS ngày 27/02/2019 đối với bị cáo: Huỳnh Dương L (tên gọi khác: Nông, Cà Nông), sinh ngày 29/3/1986 t i Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: (Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 283/28 Đường BS, Phường N, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ : Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn S và bà Nguyễn Thị Ch ©; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 08/3/2016, bị Công an Quận T bắt về hành vi “Sử d ng trái phép chất ma túy”; sau đó, ngày 26/5/2016, Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc với thời h n là 21 tháng (theo Quyết định số 323/QĐ-TA ngày 26/5/2016); đến ngày 08/12/2017 chấp hành xong quyết định; nhân thân: Ngày 20/9/2011, bị Công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Sử d ng trái phép chất ma túy”; ngày 26/9/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định đưa vào cơ s chữa bệnh bắt buộc với thời h n 24 tháng và bị áp d ng biện pháp quản lý sau cai nghiện 24 tháng, kể từ ngày 26/9/2013. Ngày 10/10/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường N, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định đưa người nghiện ma túy vào Cơ s Xã hội Thanh Thiếu Niên 2 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ t c áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc; đến ngày 19/11/2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường N, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định hủy quyết định đưa người nghiện ma túy vào Cơ s Xã hội Thanh Thiếu Niên 2 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ t c áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Dương L do Huỳnh Dương L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T kh i tố bị can và thi hành Lệnh bắt t m giam bị can; bị bắt t m giam từ ngày 19/11/2018. (Có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1960; nơi cư trú: Số 32 đường Đường BĐ, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, Huỳnh Dương L nảy sinh ý định đi tìm tài sản của người khác để sơ h thì chiếm đo t. Vào khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 30/06/2018, L gặp Lê Tấn D (sinh ngày 25/3/2001) cầu TQB, Phường N, Quận T và L nhờ D ch đi đến nhà người quen để mượn tiền thì được D đồng ý ( D không biết m c đích của L là đi tìm nhà có tài sản để sơ h thì vào lấy trộm). Sau đó, D điều khiển xe gắn máy (không rõ biển số) ch L ngồi phía sau, khi đến trước nhà số 32 đường BĐ, Phường B, Quận T thì L phát hiện nhà này còn sáng đèn, cửa khép hờ; nên L nói D dừng xe đứng đợi gần căn nhà trên để L vào nhà hỏi mượn tiền. Sau đó, L đi vào trong nhà và phát hiện bà Nguyễn Thị Đ đang nằm ngủ trên ghế salon, bà Đ có để 01 ví cầm tay màu nâu – trắng trong túi nylon màu trắng, bên trong ví có tiền; L lén lút đến lấy túi nylon có chiếc ví nói trên rồi đi ra khỏi nhà định tẩu thoát thì nhìn thấy tổ tuần tra Công an Phường đang đi đến, nên L nói D vào nhà trên tìm chìa khóa xe giúp L. Trong lúc D vừa vào nhà trên, thì L điều khiển xe của D bỏ ch y thoát, còn D bị Công an Phường B, Quận T đưa về tr s làm rõ. Sau khi lấy chiếc túi nylon, L kiểm tra trong chiếc ví có số tiền 8.000.000 đồng và L tiêu xài cá nhân hết, còn chiếc túi nylon và chiếc ví thì L vứt bỏ, nhưng không xác định được khu vực vứt bỏ chiếc túi nylon và chiếc ví. Sau khi lấy trộm được tài sản của bà Đ, khoảng 02 ngày sau, L đem chiếc xe gắn máy trên trả l i cho D và sau đó D không có nhu cầu sử d ng chiếc xe nên đã bán l i cho một người đàn ông (không rõ lai lịch), khi mua bán hai bên không có làm giấy tờ vì trước đó chiếc xe bị mất giấy tờ.

Bị mất trộm tài sản, bà Đ đến Công an Phường B, Quận T trình báo và v việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T để làm rõ.

Ngày 16/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T quyết định kh i tố bị can và bắt t m giam đối với Huỳnh Dương L, về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 28/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T yêu cầu định giá 01 ví cầm tay bằng nhựa màu trắng – nâu và 01 chiếc túi xách nylon màu trắng (lo i giống bao đựng g o) có quai, kích thước 25x35cm, màu trắng. Tuy nhiên, tài sản trên không có hiệu, lo i sản phẩm; nên Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự Quận T không có cơ s định giá. Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị Đ chỉ yêu cầu được bồi thường số tiền bị mất trộm là 8.000.000 đồng.

T i Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T, Huỳnh Dương L đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội như trên.

Đối với Lê Tấn D, qua điều tra xác định không phải là đồng ph m với Huỳnh Dương L; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T không xử lý.

Bản cáo tr ng số 48/CT – VKS ngày 29/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Dương L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

T i phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử ph t bị cáo Huỳnh Dương L mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Đồng thời đề nghị miễn phần hình ph t bổ sung cho bị cáo (do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, khó thi hành). Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường theo yêu cầu của bị h i số tiền 8.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của cơ quan điều tra Công an Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của cơ quan tiến hành tố t ng, của người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa, bị cáo Huỳnh Dương L đã khai nhận toàn bộ hành vi lén lút, bí mật chiếm đo t tài sản của bị h i là bà Nguyễn Thị Đ, t i nhà số 32 Đường BĐ, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tài sản chiếm đo t là số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) để trong một ví cầm tay bằng nhựa màu nâu – trắng trong một chiếc túi nylon màu trắng (lo i giống bao đựng g o) có quai, kích thước 25x35cm, màu trắng.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung cáo tr ng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận T và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án.

Đối với chiếc ví cầm tay bằng nhựa màu trắng – nâu và chiếc túi nylon màu trắng (lo i giống bao đựng g o) có quai, kích thước 25x35cm, màu trắng; do không có hiệu, lo i sản phẩm, nên Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự Quận T không có cơ s định giá. Đồng thời, phía bị h i không có yêu cầu bồi thường các tài sản này (do trị giá rất nhỏ, không đáng kể). Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ s để xem xét.

Bị h i Nguyễn Thị Đ chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị chiếm đo t là 8.000.000 đồng.

Như vậy, tài sản chiếm đo t thuộc trường hợp tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Do đó, đã có đủ cơ s để kết luận: Bị cáo Huỳnh Dương L đã ph m vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội ph m và hình ph t được quy định t i Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nhân thân: Bị cáo có quá trình nhân thân xấu (bị cáo là người nghiện ma túy trong một thời gian dài, đã từng bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa đi cai nghiện bắt buộc và tính đến thời điểm bị cáo thực hiện hành vi ph m tội thì bị cáo vẫn còn tiền sự chưa được xóa), nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng và sửa chữa lỗi lầm để phấn đấu thành công dân sống có ích cho xã hội mà l i tiếp t c thực hiện hành vi ph m tội với lỗi cố ý, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cũng cần phải lưu ý khi quyết định hình ph t đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; t i Cơ quan điều tra cũng như t i phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phía bị h i có đơn xin giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i điểm i, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình ph t mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Bản cáo tr ng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Huỳnh Dương L là có cơ s pháp luật, đúng người, đúng tội, mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ ph m tội và nhân thân của bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình ph t bổ sung: Theo quy định t i Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị ph t một số tiền nhất định để nộp ngân sách nhà nước. Nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và khó thi hành; nên Hội đồng xét xử không ph t bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Mặc dù vắng mặt t i phiên tòa, nhưng bị h i bà Nguyễn Thị Đ có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt h i về tài sản bị chiếm đo t (không thu hồi được) là số tiền 8.000.000 đồng.

T i phiên tòa, bị cáo đồng ý chịu trách nhiệm bồi thường theo yêu cầu của bị h i bà Nguyễn Thị Đ. Vì vậy, bị cáo L phải có trách nhiệm thực hiện việc bồi thường một lần số tiền như trên cho bị h i, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, t i Chi c c Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Về vật chứng: Các tài sản bị chiếm đo t cũng như chiếc xe gắn máy (không rõ biển số) mà bị cáo L sử d ng để tẩu thoát, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T không thu hồi được; nên không có cơ s xem xét xử lý.

Đối với Lê Tấn D, qua điều tra xác định không phải là đồng ph m với Huỳnh Dương L, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T không xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; các điểm: i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử ph t: Bị cáo Huỳnh Dương L (tên gọi khác: Nông, Cà Nông) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời h n tù tính kể từ ngày 19/11/2018.

Về hình ph t bổ sung: Không ph t bổ sung đối với bị cáo Huỳnh Dương L (tên gọi khác: Nông, Cà Nông).

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều: 584, 585, 586, 589, 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng Luật Thi hành án Dân sự;

Buộc bị cáo Huỳnh Dương L (tên gọi khác: Nông, Cà Nông) chịu trách nhiệm bồi thường thiệt h i về tài sản không thu hồi được cho bị h i là bà Nguyễn Thị Đ, với số tiền là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).

Thi hành việc bồi thường một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, t i Chi c c Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Huỳnh Dương L (tên gọi khác: Nông, Cà Nông) phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000đđồng (Hai trăm nghìn đồng) và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).

Thi hành t i Chi c c Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Keå töø ngaøy baûn aùn coù hieäu löïc phaùp luaät, beân ñöôïc thi haønh aùn coù ñôn yeâu caàu thi haønh aùn (đối với khoaûn tieàn bồi thường thiệt h i veà taøi saûn theo mức như trên), cho đến khi thi hành án xong khoản tiền bồi thường thiệt h i veà taøi saûn; hàng tháng bên phải thi hành án coøn phaûi chịu khoản tiền laõi của số tiền còn phải thi hành án theo möùc laõi suaát quy định t i Khoản 2 Điều 468 của Boä luaät daân söï năm 2015.

Tröôøng hôïp baûn aùn ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc Ñieàu: 6, 7 vaø 9 Luaät Thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi Ñieàu 30 Luaät Thi haønh aùn daân söï.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị h i vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống D hoặc niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ