vanban.org

Bản án 41/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 22/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 10/6/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V, Nguyễn Trần Quốc U - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy một cây kiềm cắt sắt cán
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2019/HS-ST
Ngày: 22-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Thật.

2. Bà Vũ Thị Đào.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2019 tại Toà án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2019/TLST-HS, ngày 01 tháng 10 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2019/HSST-QĐ ngày 30/10/2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn V (tên gọi khác: V Mập) - sinh ngày 05 tháng 5 năm 1995 tại Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Nơi cư trú: khu vực 7, phường 4, thành phố V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không ổn định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 5/12. Con ông Nguyễn Văn Bình E, sinh năm 1973 và bà Lê Thị U, sinh năm 1975; bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con lớn trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nguyễn Văn V bị bắt khẩn cấp vào ngày 10/6/2019 và bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Gò Quao cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Nguyễn Trần Quốc U (tên gọi khác: U nhóc) - sinh ngày 26 tháng 7 năm 1994 tại Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Nơi cư trú: khu vực 5, phường 4, thành phố V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 7/12. Con ông Nguyễn Văn Q (chết) và bà Trần Kim H, sinh năm 1952; họ tên vợ: Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1990; bị cáo có một người con tên Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh năm 2018; bị cáo có 02 chị em ruột, bị cáo là con út trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nguyễn Trần Quốc U bị bắt tạm giam vào ngày 14/6/2019 và hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Gò Quao.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bị hại:

Bà Võ Việt Tr – sinh năm 1991, có mặt.

Nơi cư trú: ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

HKTT: khu phố Ph, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn L1 – sinh năm 1997, có mặt.

Nơi cư trú: khu vực 1, phường 4, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

- Bà Nguyễn Trần Ngọc Q – sinh năm 1992, có đơn xin vắng mặt.

Nơi cư trú: : khu vực 5, phường 4, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Người làm chứng:

- Ông Đào Văn Ph – sinh năm 1949, vắng mặt.

Nơi cư trú: khu vực 4, phường 4, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

- Lê Thị Trúc L2 – sinh năm 1986, vắng mặt.

Nơi cư trú: khu vực 3, phường 4, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 09/6/2019, Nguyễn Văn V rủ Nguyễn Trần Quốc U đi trộm tài sản. Đến hơn 23 giờ cùng ngày, Uy mượn xe của Lê Thị Trúc L2 (L2 không biết việc U lấy xe của L2 đi trộm tài sản) đưa cho V điều khiển xe chở U đi từ hướng Vị Tân, đến Công Binh, chạy qua xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc, xã Định An rồi đi về hướng Vị Thanh, khi đi đến nhà ông Phạm Quốc D và bà Võ Việt Tr thuộc ấp An Minh, xã Định An, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang thì U kêu V dừng xe lại, cách nhà ông D, bà Tr khoảng vài mét. U đột nhập vào nhà và mở cửa, sau đó U kêu V vào lấy tài sản, khi đến trước nhà V thấy có bóng đèn chớp phía ngoài nên V dùng tay gỡ bóng đèn đem vào trong để trên thùng giấy, U đi lại đầu tủ lạnh lấy bóp da nam rồi lấy tiền trong bóp để vào trong túi sau đó đưa bóp cho V. U mở cửa phòng ngủ của ông D và bà Tr và bước vào phòng lấy tài sản còn V thì đứng ngoài cửa phòng chờ. U lấy những tài sản sau giao cho V: 01 điện thoại Iphone 4 màu đen, 01 điện thoại Iphone X màu đen (Vương lấy 02 điện thoại bỏ vào trong túi quần), tiếp theo U đưa cho V 01 túi xách nữ, 01 cái rổ nhựa đựng mỹ phẩm nữ và 01 hộc tủ nhựa đựng tiền lẻ, sau cùng là máy laptop hiệu Lenovo màu đen. Sau khi lấy tài sản xong V lục soát túi xách nữ, do không thấy tài sản gì có giá trị nên bỏ lại trước cửa nhà. Cả hai lên xe chạy về hướng Vị Thanh. Lúc này U điều khiển xe chở Vương ngồi phía sau ôm tài sản vừa trộm, chạy được một đoạn do sợ bị phát hiện nên U qua cầu chạy men theo lộ 135 song song với Quốc lộ 61, khi đến khu dân cư xã Vĩnh Hòa Hưng Nam thì U dừng xe lại, V lấy đồ vật trong rổ bỏ vào trong hộc tủ nhựa rồi vứt rổ xuống sông, tiếp theo U chạy xe đến bãi rác xã Tân Tiến, thành phố Vị Thanh, thì dừng xe lại kêu V bỏ tài sản vào trong áo cột lại, do V lấy chậm nên U cùng lấy tài sản bỏ vào trong áo, xong U vứt hộc tủ vào trong hàng rào bãi rác. Sau đó V chạy xe chở U về nhà trọ 127 ở phường 4, thành phố Vị Thanh của ông Ba Phước thuê phòng. Tại phòng trọ các bị cáo kiểm tra tài sản trộm được và chia như sau: Tiền Việt Nam chia mỗi bị cáo 800.000 đồng, số tiền còn lại sử dụng vào việc trả tiền phòng, mua ma túy sử dụng, ăn uống và tiêu xài cá nhân, V lấy máy laptop hiệu Lenovo và điện thoại Iphone 4, U lấy điện thoại Iphone X. Riêng bị cáo U khi lấy cái bóp da nam đã bỏ túi riêng 5.000.000 đồng. Sau đó bị cáo U bỏ đi, bị cáo V ngủ đến sáng thì về tiệm game bắn cá của anh Lê Văn Ng (phường 4, thành phố vị Thanh) cất giấu máy laptop. Đến hơn 12 giờ ngày 10/6/2019 thì lực lượng Công an đã mời V về làm việc, tại đây V khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với Nguyễn Trần Quốc U và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tạm giữ trên người Nguyễn Văn V gồm: 01 máy điện thoại Iphone 4, 01 bóp da có hình ông địa, số tiền Việt Nam 200.000 đồng cùng với tờ đô la 10USD bị rách dán keo lại, 02 tờ tiền Campuchia mệnh giá mỗi tờ 1.000riel là tài sản các bị cáo trộm được. Đến ngày 14/6/2019 Nguyễn Trần Quốc U hay tin Nguyễn Văn V bị công an bắt nên đã ra đầu thú với cơ quan công an.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/2019/KL-HĐĐG ngày 13/6/2019 của hội đồng định giá huyện Gò Quao kết luận:

Một máy laptop nhãn hiệu Lenovo-G560 màu đen, loại 15 inch, giá trị còn lại tại thời điểm là 4.000.000 đồng.

Một điện thoại di động hiệu Iphone 4, màu đen, màn hình cảm ứng, giá trị còn lại tại thời điểm là 500.000 đồng.

Một điện thoại di động hiệu Iphone X-64Gb, màu đen, màn hình cảm ứng, giá trị còn lại tại thời điểm là 20.309.000 đồng.

Một lắc tay trẻ em kiểu chuỗi, trọng lượng 1,3 chỉ vàng 24k, loại vàng 99,99% giá trị tại thời điểm là 4.810.000 đồng.

Một rổ nhựa, màu đỏ, hình chữ nhật không xác định được giá trị, do không còn giá trị.

Một hộc tủ nhựa không xác định được giá trị.

Một đồng hồ đeo tay hiệu Heineken bị hư hỏng hoàn toàn không xác định được gía trị.

Mười USD, tỷ giá 01USD = 23.206 đồng, giá trị tại thời điểm là 23.206 đồng.

Hai ngàn riel, tỷ giá 1000 riel = 5.760 đồng, giá trị tại thời điểm là 11.520 đồng.

Tổng giá trị các tài sản trên là: 29.863.120 đồng.

Tiền mặt các bị cáo trộm được 8.300.000 đồng. Như vậy tổng trị giá tài sản các bị cáo đã trộm là 38.163.120 đồng.

Vật chứng thu giữ: Một điện thoại di động hiệu Iphone 4 màu đen, một điện thoại di động hiệu Iphone X-64Gb màu đen, một bóp da nam có hình ông địa bên trong có 200.000 đồng cùng với 10 USD bị rách dán keo và 02 tờ tiền Campuchia có mệnh giá mỗi tờ 1.000 riel, một laptop hiệu Lenovo-G560 màu đen, một cây kiềm cắt sắt cán có bao lốp vỏ nhựa màu xám-cam, trên vỏ nhựa có ghi chữ hAIBAO TOOLS, thân kiềm có chữ HB-519536.

Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trao trả các tài sản cho bị hại gồm: Một điện thoại di động hiệu Iphone 4 màu đen, một điện thoại di động hiệu Iphone X-64Gb màu đen, một bóp da nam có hình ông địa bên trong có 200.000 đồng cùng với 10 USD bị rách dán keo và 02 tờ tiền Campuchia có mệnh giá mỗi tờ 1.000 riel và một laptop hiệu Lenovo-G560 màu đen.

Tại bản Cáo trạng số: 41/CT-VKSND-GQ, ngày 30/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U và đề nghị áp dụng:

Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo

Nguyễn Văn V từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo

Nguyễn Trần Quốc U từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy một cây kiềm cắt sắt cán có bao lốp vỏ nhựa màu xám-cam, trên vỏ nhựa có ghi chữ hAIBAO TOOLS, thân kiềm có chữ HB-519536.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Trần Quốc U và gia đình đã tự nguyện khắc phục, bồi thường thiệt hại cho các bị hại xong. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm vì vậy Viện kiểm sát không đề nghị.

Đối với hành vi trộm gà của bị cáo Nguyễn Văn V qua rà soát cơ quan điều tra không xác định được bị hại nên viện kiểm sát đề nghị tách ra để xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Quao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thưc hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Trần Ngọc Q có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bà Quyên.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U khai nhận: Vào rạng sáng ngày 10/6/2019 lợi dụng lúc các bị hại đang ngủ say các bị cáo đã đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản của ông Phạm Quốc D và bà Võ Việt Tr tại ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang gồm: Một máy laptop nhãn hiệu Lenovo-G560 màu đen, một điện thoại di động hiệu Iphone 4 màu đen, một điện thoại di động hiệu Iphone X-64Gb màu đen, một rổ nhựa màu đỏ - hình chữ nhật, một hộc tủ nhựa, một đồng hồ đeo tay hiệu Heineken, một lắc tay trẻ em kiểu chuỗi, trọng lượng 1,3 chỉ vàng 24k, loại vàng 99,99%, mười USD, hai ngàn riel, tiền mặt 8.300.000 đồng. Như vậy tổng trị giá tài sản các bị cáo đã trộm là 38.163.120 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố các bị cáo về tội trộm cắp tài sản, đồng thời đề nghị Tòa xử mức án nhẹ để bị cáo sớm trở về gia đình làm ăn lương thiện. Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng số: 41/CT-VKSND-GQ, ngày 30/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao. Sau khi thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa có căn cứ xác định:

Bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi, bị cáo biết tài sản của công dân là bất khả xâm phạm được pháp luật bảo vệ và mọi người tôn trọng nhưng vì động cơ tham lam tư lợi, mục đích bị cáo chiếm đoạt tài sản để sử dụng cá nhân. Hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo ý thức được hậu quả hành vi bị cáo thực hiện nhưng bị cáo bất chấp hậu quả. Tài sản bị cáo trộm cắp của các bị hại có giá trị là 38.163.120 đồng đã đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U đã cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1.Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ...”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Trần Quốc U có nhân thân xấu, từng bị Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xử phạt 04 tháng tù về tội trộm cắp, tuy nhiên bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn V có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.

Sau khi đã xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan các tình tiết của vụ án, đối chiếu với quy định pháp luật, đề nghị của Viện kiểm sát, bị hại. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sỡ hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn làm mất an ninh trật tự ở địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân, các bị cáo là thanh niên trong độ tuổi lao động nhưng lười lao động lại thường xuyên tụ tập bắn cá và sử dụng ma túy đá rồi đi trộm cắp tài sản của người khác để có tiền thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên cần phải áp dụng cho bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Để đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nên cách ly bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo trở thành người công dân có ích.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Trần Quốc U và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Tại phiên tòa bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu và Viện kiểm sát không có đề nghị nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy một cây kiềm cắt sắt cán có bao lốp vỏ nhựa màu xám-cam, trên vỏ nhựa có ghi chữ hAIBAO TOOLS, thân kiềm có chữ HB-519536.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, mỗi bị cáo là 200.000 đồng. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng Điều 173 Bộ Luật Hình sự.

* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ Luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 10/6/2019.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ Luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trần Quốc U 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 14/6/2019.

* Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử miễn xét.

* Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy một cây kiềm cắt sắt cán có bao lốp vỏ nhựa màu xám-cam, trên vỏ nhựa có ghi chữ hAIBAO TOOLS, thân kiềm có chữ HB-519536.

Vật chứng được bàn giao tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Quao theo phiếu nhập kho ngày 04/9/2019.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Quốc U phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo bằng 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

* Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ