vanban.org

Bản án 41/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau Tuyên án 22/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Chúc L, Văn Thái K (H) phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Chúc L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo Đỗ Chúc L vào trại chấp hành án. Bị cáo Văn Thái K (H) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo Văn Thái K vào trại chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo Đỗ Chúc L, Văn Thái K (H) phạm tội “Trộm cắp tài sản ”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Chúc L, Văn Thái K (H) phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2019/HS-ST
Ngày: 23 – 10 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tuấn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Ngô Đức Kỳ

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Toà án nhân dân huyện Cái Nước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H Mơ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 10 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2019/TLST-HS, ngày 29 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2019/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 9 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo thứ nhất:

Họ và tên: Đỗ Chúc L - Sinh năm 1971 tại huyện P, tỉnh Cà Mau.

Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKTT và chổ ở: ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm vuông; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Văn P, con bà Nguyễn Thị N; Vợ: Nguyễn Thị H; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2001.

Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày10/4/2019 bị Công an xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với mức phạt 1.500.000 đồng, chấp hành xong việc nộp phạt vào ngày 10/4/2019.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Bị cáo thứ hai:

Họ và tên: Văn Thái K - Sinh năm 1983 tại huyện N, tỉnh Cà Mau.

Tên gọi khác: H.

Nơi ĐKTT: Khóm T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau; Chổ ở: ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Văn Công H, con bà Nguyễn Cẩm H; Vợ: Lê Thị Kim P; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày10/4/2019 bị Công an xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với mức phạt 1.500.000 đồng, chấp hành xong việc nộp phạt vào ngày 10/4/2019.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Võ Thành A, sinh năm 1968 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Vủ T, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/4/2019 Đỗ Chúc L và Văn Thái K (Hưởng Em) bị Công an xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, với mức phạt 1.500.000 đồng. Cả hai đều đã chấp hành xong việc nộp phạt vào ngày 10/4/2019. Vào khoảng 21 giờ ngày 29/4/2019 L đang ở nhà tại ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau thì K gọi điện thoại di động rủ L đến quán nhậu Thùy Dương ở ấp Đ, xã T, huyện C để nhậu, L đồng ý và rủ Lê Vủ T cùng đi. T điều khiển xe mô tô 50CC (chưa rõ biển số) chở L đến quán Thùy Dương. Tại quán Thùy Dương cả ba người cùng ngồi nhậu đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì L nghe tiếng gà trống gáy bên nhà anh Võ Thành A ở cặp vách quán nên nảy sinh ý định bắt trộm gà của anh A, lúc này L rủ K và T cùng thực hiện thì cả hai đồng ý. L phân công T leo tường vào nhà anh A bắt trộm gà, K thì đi ra phía trước cửa quán canh đường, còn L thì ngồi tại bàn nhậu để quan sát, nếu thấy có người thì sẽ gọi điện thoại báo cho T hay K để tẩu thoát. Sau đó T leo lên vách tường nhà anh A nhưng không xuống được nên T quay lại bàn nhậu nói cho L biết. Lúc này L kêu T và K ngồi tại bàn nhậu, còn L thì đi leo lên vách tường để vào nhà anh A bắt trộm gà. Khi vào được phía trong nhà anh A, L bắt trộm 06 con gà trống nòi đem bỏ vào trong 02 cái giỏ đệm có tại chuồng gà (mỗi giỏ đệm đựng 03 con). Sau đó L leo ra ngoài và gọi điện thoại di động cho K nói “đã bắt gà xong rồi”. Lúc này L và T lên xe của T về trước còn K thì trả tiền nhậu rồi chạy xe về sau.

Khoảng 23 giờ cùng ngày cả ba về đến nhà của K ở ấp Mỹ Hưng, xã Trần Thới, huyện Cái Nước. Tại đây L, K và T bàn bạc đem 06 con gà vừa bắt trộm được đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì tất cả đồng ý. Khoảng 20 phút sau, L và T đem 06 con gà trên về nhà L ở ấp T, xã V, huyện P để cất giấu, còn K thì ở lại nhà ngủ. Đến sáng ngày 30/4/2019, T đem 01 trong số 06 con gà bắt trộm của anh A đến nhà Lê Văn N ở cùng ấp để đá và thua luôn xác con gà. Cùng lúc này anh Võ Thành A đến Công an xã Trần Thới, huyện Cái Nước trình báo về việc mất trộm tài sản, đồng thời anh A chạy xe xuống khu vực thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn để tìm kiếm. Tại đây, anh A gặp chị Lê Thị Thúy H là người quen của anh A, lúc này anh A kể cho chị H nghe sự việc anh bị mất gà đồng thời mở đoạn camera ghi lại hình ảnh lúc L, K và T mang giỏ gà đi ra cho chị H xem, chị H nhận ra K nên đã gọi điện thoại kêu K đem trả số gà cho anh A. Sau đó K gọi điện thoại di động cho L và L kêu anh Dương Hồng N (là người chạy xe ôm) đem 05 con gà trống nòi và số tiền 2.000.000 đồng (trị giá con gà mà T đem đá đã chết) đến nhà chị H để trả lại cho anh A. Sau đó anh A đã đem toàn bộ số gà trên đến Công an xã Trần Thới giao nộp. Quá trình điều tra Đỗ Chúc L, Văn Thái K và Lê Vủ T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tổng trọng lượng 06 con gà mà L, K và T đã bắt trộm của anh A là 14,3kg.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 29/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Cái Nước kết luận:

+ 14,3kg gà x 120.000đ/kg = 1.716.000 đồng.

+ 02 cái giỏ đệm x 50.000đ/cái = 100.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị cáo L và bị cáo K trộm của anh A là 1.816.000 đồng.

Tại phiên tòa các bị cáo Đỗ Chúc L và Văn Thái K trình bày: Vào ngày 10/4/2019 các bị cáo Đỗ Chúc L và Văn Thái K đã bị Công an xã V, huyện P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong việc nộp phạt vào ngày 10/4/2019. Đến khoảng 22 giờ ngày 29/4/2019 khi đang ngồi nhậu tại quán Thùy Dương thì nghe tiếng gà gáy ở nhà anh A cạnh quán Thùy Dương, nên cả nhóm nảy sinh ý định bắt trộm gà đem bán lấy tiền tiêu xài. Đỗ Chúc L, Văn Thái K và Lê Vủ T đã lén lút chiếm đoạt 06 con gà trống của anh Võ Thành A. Tổng giá trị tài sản bị cáo L, bị cáo K và T lén lút chiếm đoạt của anh A là 1.816.000 đồng, bị cáo L và bị cáo K đồng ý với kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện Cái Nước.

Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án anh Võ Thành A trình bày: Vào đêm ngày 29/4/2019 anh bị mất 06 con gà trống, đến sáng ngày 30/4/2019 anh phát hiện bị mất 06 con gà và báo Công an xã Trần Thới, huyện Cái Nước. Hiện nay anh đã nhận lại tài sản là 05 con gà và 01 con không thu hồi được thì các bị cáo đã bồi thường cho anh xong nên anh không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo. Về trách nhiệm hình sự anh có đơn xin bải nại cho các bị cáo.

Bản cáo trạng số: 44/CT -VKS, ngày 28 tháng 8 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước truy tố Đỗ Chúc L và Văn Thái K về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước cho rằng: Ngày 10/4/2019 các bị cáo Đỗ Chúc L và Văn Thái K đã bị Công an xã V, huyện P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong việc nộp phạt vào ngày 10/4/2019 nhưng đến ngày 29/4/2019 vẫn thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại An. Tuy nhiên trong vụ án này các bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin bãi nại, tài sản thu hồi đã trả lại cho bị hại, tài sản không thu hồi được các bị cáo cũng đã bồi thường xong. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên bố các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Đỗ Chúc L từ 09 tháng đến 01 năm tù, xử phạt bị cáo Văn Thái K từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự do tài sản đã thu hồi trả cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, xin giảm nhẹ hình phạt do bị cáo đã ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cái Nước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai tại phiên tòa của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng trong vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Xét bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác để sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Cụ thể vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 29/4/2019 các bị cáo đã lén lút lấy của anh Võ Thành A 06 con gà trống nòi tổng trọng lượng 14,3kg và 02 cái giỏ đệm đựng gà có tổng giá trị là 1.816.000 đồng. Đồng thời, các bị cáo ngày10/4/2019 bị Công an xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với mức phạt 1.500.000 đồng, chấp hành xong việc nộp phạt vào ngày 10/4/2019 do đó tính đến ngày 29/4/2019 là ngày các bị cáo thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh A thì các bị cáo L, K vẫn chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước truy tố các bị cáo Đỗ Chúc L, Văn Thái K về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức bình thường, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi của các bị cáo L, K gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, mà hành vi đó còn gây hoang mang trong việc quản lý tài sản của mình, làm cho quần chúng nhân dân không an tâm lao động sản xuất, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, vi phạm pháp luật hình sự. Các bị cáo là người khỏe mạnh bình thường, nhưng không tích cực lao động, không thực hiện những việc làm chân chính để tạo ra của cải vật chất, có thu nhập cho bản thân và gia đình. Ngược lại, các bị cáo cố ý thực hiện hành vi lét lút chiếm đoạt tài sản của người khác để nhằm hưởng lợi cá nhân. Do đó cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo cải tạo thành người công dân tốt. Từ đó có điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện có ích cho xã hội. Qua đó cũng nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm cho xã hội. Riêng đối với bị cáo L thì bị cáo có nhân thân chưa tốt, ngày 28/11/2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm, chấp hành xong thời gian thử thách vào ngày 28/11/2008. Đến ngày 14/02/2012 bị Công an xã V, huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, L đã chấp hành xong việc nộp phạt. Ngày 29/10/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 13/5/2013 tiếp tục bị Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt Đỗ Chúc L phải chấp hành tại 02 bản án trên là 03 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 29/12/2014 tại Trại Giam Kênh 7. Sau khi chấp hành án bị cáo L không biết ăn năn hối cải để trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này tuy các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn nhưng bị cáo L lại là người khởi xướng, phân công nhiệm vụ và trực tiếp thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo L. Đối với bị cáo K có nhân thân tốt, bản thân không có tiền án nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc cho bị cáo khi lượng hình. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã trả lại cho người bị hại, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với Lê Vủ T là người cùng với hai bị cáo L, K thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản tuy nhiên T không có tiền án tiền sự, tài sản thiệt hại chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Nước ra quyết định xử phạt hành chính đối với T là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Anh A đã nhận lại tài sản, số tài sản bị thiệt hại các bị cáo đã bồi thường xong cho anh A. Hiện anh A không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Đỗ Chúc L, Văn Thái K mỗi bị cáo phải chịu số tiền là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Chúc L. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Văn Thái K (H).

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Chúc L, Văn Thái K (H) phạm tội “Trộm cắp tài sản ”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Chúc L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo Đỗ Chúc L vào trại chấp hành án.

Bị cáo Văn Thái K (H) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo Văn Thái K vào trại chấp hành án.

Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Đỗ Chúc L, Văn Thái K (H) mỗi bị cáo phải chịu số tiền án phí là 200.000 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ