- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2019/HNGĐ-ST Ngày: 27-9-2019 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Phương
2. Ông Lê Chánh Ngôn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hiếu là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Ry - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 306/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc G, sinh năm 1988.
Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979.
Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa, có mặt nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc G; bị đơn anh Nguyễn Văn H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 02/02/2007 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, nhưng khoảng 03 năm nay vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn do anh Nguyễn Văn H nghi ngờ, ghen tuông chị có người đàn ông khác nên vợ chồng thường xuyên bất hòa và có lần anh Nguyễn Văn H còn đánh chị; gần 02 năm nay chị về nhà cha mẹ đẻ của chị ở thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận sinh sống và sống ly thân với anh Nguyễn Văn H; trong thời gian vợ chồng sống ly thân, chị và anh Nguyễn Văn H không còn quan tâm, chăm sóc nhau, không còn thực nghĩa vụ của vợ chồng. Đến nay, chị thấy mục đích hôn nhân của chị và anh Nguyễn Văn H không đạt được, chị không còn tình cảm vợ chồng với anh Nguyễn Văn H nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung tên Nguyễn Duy Q, sinh ngày 06/12/2007. Hiện nay con chung Nguyễn Duy Q đang sinh sống với chị ở thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận; trường hợp chị và anh Nguyễn Văn H ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Ngọc G có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 02/02/2007 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn do chị Trần Thị Ngọc G có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Gần 02 năm nay, chị Trần Thị Ngọc G về nhà mẹ đẻ ở thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận sinh sống, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Chị Trần Thị Ngọc G có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh, bản thân anh cũng thấy không còn tình cảm vợ chồng với chị Trần Thị Ngọc G nên đồng ý ly hôn với chị Trần Thị Ngọc G. Ngoài ra, anh còn có ý kiến đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải.
Về con chung: Anh và chị Trần Thị Ngọc G có 01 con chung tên Nguyễn Duy Q, sinh ngày 06/12/2007. Hiện nay con chung Nguyễn Duy Q đang sinh sống với chị Trần Thị Ngọc G, trường hợp anh và chị Trần Thị Ngọc G ly hôn, anh đồng ý để chị Trần Thị Ngọc G được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do bị đơn anh Nguyễn Văn H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tham gia phiên tòa phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong vụ án:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng pháp luật; Đương sự chấp hành pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc G, về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc G được ly hôn với anh Nguyễn Văn H; về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Duy Q cho chị Trần Thị Ngọc G được trực tiếp nuôi dưỡng; về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979. Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn H.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc G và anh Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 02/02/2007 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Bình Thuận, không vi phạm quy định tại các Điều 9, Điều 10 và Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên quan hệ hôn nhân của họ là hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét thấy, chị Trần Thị Ngọc G và anh Nguyễn Văn H là vợ chồng nhưng từ lâu không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ với nhau và đã sống ly thân gần 02 năm; quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, chị Trần Thị Ngọc G và anh Nguyễn Văn H đều không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, anh Nguyễn Văn H còn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; đồng thời chị Trần Thị Ngọc G và anh Nguyễn Văn H đều yêu cầu được ly hôn. Điều này chứng tỏ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị Trần Thị Ngọc G yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn H là có cơ sở, phù hợp với quy định tại 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về việc nuôi con: Chị Trần Thị Ngọc G và anh Nguyễn Văn H đều có ý kiến thống nhất để chị Trần Thị Ngọc G trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Duy Q (sinh ngày 06/12/2007), điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung là được ở với mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Chị Trần Thị Ngọc G không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Trần Thị Ngọc G và anh Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tại phiên tòa có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 9, Điều 10 và Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc G về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với anh Nguyễn Văn H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc G được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Ngọc G được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên tên Nguyễn Duy Q (sinh ngày 06/12/2007).
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục còn thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vieäc thay ñoåi ngöôøi tröïc tieáp nuoâi con sau khi ly hoân coù theå ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh của pháp luật.
3. Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003603 ngày 20/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam. Chị Trần Thị Ngọc G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Trần Thị Ngọc G được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/9/2019); anh Nguyễn Văn H được được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hàm Thuận Nam; - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Nam; - Các đương sự; - UBND xã Hàm Mỹ; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Phƣơng |