- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thu H-Hồ Khắc Minh D"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thu H; bà Trần Thị Thu H được ly hôn với ông Hồ Khắc Minh D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2019/HNGĐ-ST Ngày: 24-7-2019 V/v “tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hạnh.
2. Ông Bùi Huy Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Anh
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức: Bà Ngô Thị Hồng Phương.
Ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37A/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1984. (Có mặt)
HKTT: Hàng 6, thôn 6, xã Bình Trung, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Nơi ở hiện nay: Tổ 39, ấp Xà Bang 1, xã Xà Bang, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Hồ Khắc Minh D, sinh năm 1982. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Hàng 6, thôn 6, xã Bình Trung, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tại bản khai và tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn bà Trần Thị Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thu H và ông Hồ Khắc Minh D chung sống vợ chồng với nhau có đăng ký kết hôn từ năm 2007, hôn nhân dựa trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Trong suốt quá trình chung sống giữa bà H và ông D thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông D thường hay ghen tuông vô cớ, ông D còn chơi ma túy đá, mỗi lần chơi là thường đánh đập bà H. Chính vì những nguyên nhân trên dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà H và ông D đã ly thân từ năm 2017 đến nay, bà H đã dọn về nhà cha mẹ ruột ở, từ lúc ly thân đến nay bà H và ông D mạnh ai nấy sống không ai quan tâm chăm sóc nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông D.
Về con chung: Bà H và ông D có 01 người con chung là Hồ Khắc Ngọc Anh, sinh ngày 13/02/2008. Hiện con đang sống chung với bà H, nay bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình làm việc tại Tòa án bà H có yêu cầu ông Hồ Khắc Minh D cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên tại phiên tòa bà H xin rút lại yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Hồ Khắc Minh D:
Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của ông Hồ Khắc Minh D tại công an xã Bình Trung, huyện Châu Đức, kết quả xác minh như sau: Ông Hồ Khắc Minh D có hộ khẩu thường trú tại Hàng 6, thôn 6, xã Bình Trung, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, ông D hiện vẫn đang thường xuyên sinh sống tại địa chỉ trên.
Toà án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay ông Hồ Khắc Minh D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do chính đáng. Ông D không có văn bản ghi ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại phiên tòa hôm nay kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải và xét xử nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Hồ Khắc Minh D.
Nội dung:
Về ly hôn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thu H.
Về con chung: Giao cháu Hồ Khắc Ngọc Anh sinh ngày 13-02-2008 cho bà Trần Thị Thu H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành hoặc có thay đổi theo qui định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ theo đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thu H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn ông Hồ Khắc Minh D có địa chỉ tại Hàng 6, thôn 6, xã Bình Trung, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và hiện ông D vẫn thường xuyên sinh sống tại địa chỉ này, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Hồ Khắc Minh D đến phiên tòa nhưng ông D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do; căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Nhận thấy, bà Trần Thị Thu H và ông Hồ Khắc Minh D chung sống vợ chồng với nhau có đăng ký kết hôn từ năm 2007, hôn nhân dựa trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc nên theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông D là hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của bà H tại bản khai cũng như tại phiên tòa, nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà H và ông D là do ông D thường hay ghen tuông vô cớ, ông D còn chơi ma túy đá, mỗi lần chơi là thường đánh đập bà H nên đã phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà H và ông D đã ly thân từ năm 2017 đến nay, bà H cũng đã dọn về nhà mẹ ruột bà H ở. Đối với ông Hồ Khắc Minh D, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông D tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa tuy nhiên ông D đều vắng mặt không có lý do, có thái độ trốn tránh, không có thiện chí hoà giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời ông D cũng không có văn bản trình bày ý kiến phản hồi của mình cho Tòa án mặc dù vẫn thường xuyên sinh sống tại địa phương chứng tỏ ông D đã bỏ mặc không quan tâm gì đến quan hệ hôn nhân giữa ông D và bà H.
Từ các căn cứ trên xét thấy mâu thuẫn gia đình giữa bà H và ông D là có thật, không hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà H là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông D .
Về nuôi con chung và cấp dưỡng: Bà H và ông D có một người con chung tên Hồ Khắc Ngọc Anh sinh ngày 13-02-2008, con hiện đang sống chung với bà H và bà H có nguyện vọng tiếp tục được nuôi con. Xét thấy bà H có việc làm và thu nhập ổn định, có nơi ở ổn định nên đủ điều kiện để nuôi con, hiện cháu Anh đang được bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; nguyện vọng của cháu Anh là được ở cùng bà H sau khi bà H và ông D ly hôn. Để tránh cuộc sống hiện tại của cháu Anh bị xáo trộn, không làm ảnh hưởng đến việc học và tâm lý của cháu, nên cần tiếp tục giao cháu Anh cho bà H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành.
Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử đã giải thích cho bà H về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con tuy nhiên bà H xin rút yêu cầu ông Hồ Khắc Minh D cấp dưỡng nuôi con, xét đây là sự tự nguyện của bà H, không trái với các quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, cần đình chỉ đối với yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án, của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bà Trần Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, ông Hồ Khắc Minh D không phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84,116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình.
Áp dụng Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thu H; bà Trần Thị Thu H được ly hôn với ông Hồ Khắc Minh D.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Hồ Khắc Ngọc Anh sinh ngày 13-02-2008 cho bà Trần Thị Thu H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Anh đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi theo qui định của pháp luật.
Đình chỉ yêu cầu của bà Trần Thị Thu H về việc yêu cầu ông Hồ Khắc Minh D cấp dưỡng nuôi con. Ông Hồ Khắc Minh D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Hồ Khắc Minh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Trần Thị Thu H phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số: 0009578, ngày 28 tháng 02 năm 2019, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức, bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Hồ Khắc Minh D không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bà Trần Thị Thu H biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Hồ Khắc Minh D vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TA Tỉnh;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện C Đức;
- THADS huyện C Đức;
- UBND xã Bình Trung, H.C Đức;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Lê Thu Hiền
| Nơi nhận: - TA Tỉnh; - VKSND huyện Châu Đức; - THADS huyện Châu Đức; - UBND xã Xà Bang, H.Châu Đức; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thu H |