vanban.org

Bản án 41/2019/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận hợp đồng góp hụi giữa chị Đặng Thị L với chị Đoàn Thị Thùy Trang.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị L. Buộc chị Đoàn Thị Thùy T có trách nhiệm trả cho chị Đặng Thị L số tiền 54.500.000đ (Năm mươi bốn triệu, năm trăm ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hụi giữa bà L với bà T"
  • Tòa quyết gì? Công nhận hợp đồng góp hụi giữa chị Đặng Thị L với chị Đoàn Thị Thùy Trang.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________
Bản án số: 41/2019/DS-ST
Ngày: 24/7/2019.
V/v tranh chấp “Hợp đồng hụi”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Mừng;

2. Ông Huỳnh Tấn Khoa.

.

Thƣ ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 139/2019/TLST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp: “Hợp đồng hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2019/QĐST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị L- sinh năm 1974. Có mặt.

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Chị Đoàn Thị Thùy T - sinh năm 1989. Vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 15/3/2019, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đặng Thị L trình bày: Vào năm 2016 chị làm chủ hụi, chị T tham gia 2 dây hụi 500.000đ, hụi tháng:

Dây thứ 1: khui ngày 8/7/2016 al gồm 30 phần, chị T vào 3 phần, hốt hụi và chầu lại được 7 lần thì ngưng, chị T còn nợ lại 23 lần là 34.500.000đ

Dây thứ 2: khui ngày 19/9/2016 gồm 26 phần, chị T vào 2 phần, hốt hụi và chầu lại đến lần thứ 6 thì ngưng, chị T còn nợ lại 20 lần là 20.000.000đ. Tổng cộng 2 dây hụi chị T còn nợ 54.500.000đ. Tại ban ấp Mỹ An hòa giải chị Trang thống nhất số tiền nợ và xin được trả mỗi tháng 1.500.000đ chị đồng ý nhưng chị Trang không thực hiện. Nay chị L yêu cầu chị Trang phải trả số tiền trên, chị L không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn chị Đoàn Thị Thùy T đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp, nhưng chị không gửi văn bản ghi ý kiến của chị về các yêu cầu khởi kiện của chị Trang cho Tòa án. Nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

1 Về thủ tục tố tụng: chị Đặng Thị L khởi kiện bị đơn chị Đoàn Thị Thùy T có nơi cư ngụ tại ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Đoàn Thị Thùy T được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Trang.

[2 Về nội dung: Chị L khởi kiện yêu cầu chị Trang trả số tiền hụi 54.500.000 đồng. Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả hòa giải nhưng phía bị đơn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị L. Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là Biên bản hòa giải ngày 23/11/2017 của ban ấp M, xã N, huyện C chị T thừa nhận thiếu chị L số tiền 54.500.000đ và cam kết trả mỗi tháng 1.500.000đ nhưng chị không thực hiện. Như vậy có cơ sở xác định hợp đồng góp hụi giữa chị L và chị T là hoàn toàn tự nguyền phù hợp với Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi còn nợ 54.500.000 đồng là có cơ sở phù hợp với Điều 29 Nghị định 144/2006/CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường nên được chấp nhận.

[3 Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: 471 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị định 144/2006/CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Công nhận hợp đồng góp hụi giữa chị Đặng Thị L với chị Đoàn Thị Thùy Trang.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị L.

Buộc chị Đoàn Thị Thùy T có trách nhiệm trả cho chị Đặng Thị L số tiền 54.500.000đ (Năm mươi bốn triệu, năm trăm ngàn đồng).

Án phí DSST: Chị Đoàn Thị Thùy T phải chịu là 2.725.000đ (Hai triệu bảy trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

Chị Đặng Thị L được nhận lại số tiền tạm ứng đã nộp là 1.362.000đ (Một triệu ba trăm sáu mươi hai ngàn đồng) theo biên lai thu số 0012795 ngày 20/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ