- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Áp d ng khoản 1 Điều 136, điểm g khoản 1 Điều 48, ®iÓm p kho¶n 1 §iÒu 46 Bộ luật h nh sự năm 1999, §iÒu 38, Điều 48 Bé luËt h×nh sù năm 2015; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố t ng h nh sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật tố t ng h nh sự; Điều 99 Bộ luật tố t ng h nh sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2018/HSST Ngày 12-02-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- hành h n i đ ng t
ơ th g có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Nguyễn Đ nh Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Minh
Bà Nguyễn Thị B nh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trâm Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội:
Bà Phạm Thị Ngọc Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2018 tại Tr s Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội t sơ th m c ng khai v án h nh sự sơ th m th lý số 35/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2018, theo Quyết định đưa v án ra t số 39/2018/QĐXXST-HS ngày 29/01/2018 đối với bị cáo:
Bùi Văn H, sinh ngày 25 tháng 02 năm 1999 tại tỉnh N; Nơi cư trú: Th n Y, ã Y, huyện N, tỉnh N;Chỗ : Kh ng nơi cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; T n giáo: Kh ng; Nghề nghiệp: Kh ng; Tr nh độ văn hóa: 06/12; Con ng: Bùi Văn B (c) và bà Nguyễn Thị T (c); Tiền án: Kh ng; Tiền sự: 01; Nhân thân:
- Ngày 23/12/2016, C ng an ã Yên Quang phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản (chưa hết thời hiệu)
Bắt kh n cấp ngày 24/08/2017; Tạm giữ ngày 24/08/2017; Tạm giam ngày 30/08/2017; Có m t.
* Bị hại:
1- Chị Vũ Thị Thu H - sinh năm 1999 (vắng m t).
ĐKHKTT: ã H, th n H, huyện K, tỉnh T
Trú tại: Số 86 phố V, phường V, quận H, thành phố H.
2- Chị Nguyễn Thị Thu P - sinh năm 1979 (vắng m t).
ĐKHKTT: 23F Nhà tập thể D, phường Đ, quận H, thành phố H
3- Anh Đặng Đình C - sinh năm 1968 (vắng m t).
ĐKHKTT: Số 8 ngách 35 ngõ H, quận H, thành phố H
4- Chị Nguyễn Thị H- sinh năm 1974 (vắng m t).
ĐKHKTT: Số 24 ngách 177/88 phố Đ, tổ X, phường Đ, quận H, thành phố H
5- Anh Trần Xuân T - sinh năm 1979 (vắng m t).
ĐKHKTT: Th n T, huyệnV, tỉnh T
Trú tại : Số 6 đường N, phường T, quận H, thành phố H
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1- Anh Phan Văn Q – sinh năm 1972 (vắng m t)
ĐKHKTT: Số 201 A8 phố T, quận H, thành phố H
2- Anh Nguyễn Thế A – sinh năm 1993 (vắng m t)
ĐKHKTT: ã H, huyện K, tỉnh T
Trú tại: số 222 phố T, phường T, quận H, thành phố H
3- Anh Phạm Văn T – sinh năm 1977 (vắng m t)
ĐKHKTT: Tổ 36 phường T, quận H, thành phố H
4-Chị Phạm Thị H- sinh năm 1989 (vắng m t)
ĐKHKTT: th n D, ã H, huyện K, tỉnh T
Trú tại : Số 8 đường N, phường T, quận H, thành phố H
5 - Anh Phạm Ngọc T – sinh năm 1986 (vắng m t)
ĐKHKTT: Th n D, ã H, huyện K, tỉnh T
Trú tại : Số 8 đường N, phường T, quận H, thành phố H
6- Anh Trần Văn B – sinh năm 1987 (vắng m t)
ĐKHKTT: ã T, huyện K, tỉnh T
7- Anh Vũ Mạnh C – sinh năm 1988 (vắng m t)
ĐKHKTT: Số 18 ngõ K, phố Đ, phường T, quận H, thành phố H
Trú tại: Tổ 42 Phường T, quận H, thành phố H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ v án và quá tr nh t hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau: Bị cáo Bùi Văn H và Vũ Mạnh C là bạn ã hội g p nhau và cùng chơi điện t tại quán Internet 86 đường T, quận H, thành phố H. Khoảng 10h ngày 23/8/2017, bị cáo mượn e máy nhãn hiệu Wave BKS 30N4-8155 của C để đi đến khu vực đường V với m c đích cướp giật dây chuyền bạc tại c a hàng vàng bạc. Khi đến c a hàng vàng D số 86 đường V, quận H, thành phố H, do chị Vũ Thị Thu H là nhân viên, bị cáo bảo chị H cho em dây chuyền bạc. Chị H đưa cho bị cáo 01 sợi dây chuyền bạc dạng mắt ích có trọng lượng khoảng 8 cây trị giá khoảng 5.000.000 đồng để bị cáo đeo th lên cổ. Bị cáo nói với chị H tiếp t c cho em 01 chiếc dây khác. Khi chị H đang lấy dây chuyền theo yêu cầu của bị cáo th bị cáo chạy ra e máy phóng đi. Sau đó, bị cáo đến c a hàng vàng Q địa chỉ 475 đường T, phường T, quận H, thành phố H bán sợi dây chuyền vừa cướp giật được cho anh Phan Văn Q được 3.100.000 đồng. Bị cáo đã ăn tiêu hết 700.000 đồng còn lại 2.400.000 đồng. Anh Phan Văn Q yêu cầu bị cáo H phải hoàn trả cho anh số tiền 3.100.000 đồng
Cùng ngày 23/8/2017, chị Vũ Thị Thu H đã đến cơ quan C ng an tr nh báo về việc bị cướp giật chiếc dây chuyền bạc như trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an quận Hoàng Mai đã dẫn giải và ác định bị cáo đã bán chiếc dây chuyền cướp giật được cho anh Q. Anh Q đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan C ng an 01 sợi dây chuyền kim loại màu trắng, dài 64cm, mắt ích rộng 1,4cm.
Ngày 24/8/2017, bị cáo H đã bị bắt theo lệnh bắt kh n cấp số 92 của cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an quận Hoàng Mai.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 e máy Honda Wave màu đen BKS 30N4 – 8155, số máy 2661710; số khung 161693 và số tiền 2.400.000 đồng.
Ngoài v cướp giật ngày 23/8/2017, bị cáo Bùi Văn H còn khai nhận vào các ngày14/8/2017 ;17/8/2017; 18/8/2017, 21/8/201đã cướp giật 04 v khác như sau:
V thứ 1: Khoảng 11h ngày 14/8/2017, bị cáo điều khiển e máy Wave màu đen BKS 30N4-8155 đến c a hàng vàng N, địa chỉ số 299 đường L, phường V, quận H, thành phố H do chị Nguyễn Thị Thu P làm chủ cướp giật 01 sợi dây chuyền bạc kiểu dây dừa đầu rồng, trọng lượng khoảng 5 cây trị giá khoảng 3.000.000 đồng, sau đó mang bán cho Nguyễn Thế A là chủ c a hàng vàng bạc H, địa chỉ số 222 đường T, quận H, thành phố H được số tiền 2.000.000đồng và đã ăn tiêu hết. Ngày 24/8/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an quận Hoàng Mai đã dẫn giải và ác định được bị cáo đã bán sợi dây chuyền cướp giật được cho anh A. Anh A đã tự nguyện giao nộp cho co quan C ng an 01 sợi dây chuyền kim loại màu trắng, hai đầu h nh rồng, dài 59cm, mắt ích oắn tròn rộng 0,8cm. Anh A yêu cầu bị cáo Hợp phải hoàn trả cho anh số tiền 2.000.000 đồng.
V thứ 2: Khoảng 10h20’ ngày 17/8/2017, bị cáo H điều khiển e máy Wave màu đen BKS 30N4-8155 đến c a hàng vàng H, địa chỉ số 252I đường M, quận H, thành phố H do anh Đ ng Đ nh C làm chủ cướp giật 01 sợi dây chuyền bạc trọng lượng khoảng 5 cây cùng 01 m t dây chuyền và 01 lắc tay. tổng trị giá khoảng 5.000.000 đồng.Trên đường đi, bị cáo đã làm rơi m t sợi dây chuyền. Sau đó, bị cáo mang bán sợi dây chuyền cho anh Phạm Văn T là chủ c a hàng vàng T, địa chỉ số 113 đường N, phường T, quận H, thành phố H được 1.800.000đồng. Sau khi mua sợi dây chuyền anh T đã mang nấu ra thành 01 c c bạc trọng lượng 03 cây, 02 cây còn lại đã chế tác thành nhẫn, hoa tai và dây đeo tay nhỏ và đã bán cho khách qua đường. Còn chiếc lắc tay bị cáo H bán cho chị Phạm Thị H tại c a hàng vàng bạc K số 8 đường N, phường T, quận H, thành phố H được 800.000đồng. Ngày 24/8/2017, cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an quận Hoàng Mai đã dẫn giải và ác định bị cáo đã bán sợi dây chuyền cướp giật được cho anh T và chị H. Anh T đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan C ng an 01 c c kim loại bằng bạc trọng lượng 03 cây, chị H giao nộp 01 lắc tay bằng bạc. Anh Phạm Văn T yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho anh số tiền 1.800.000 đồng. Chị Phạm Thị H yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho chị số tiền 800.000 đồng. Anh Đ ng Đ nh C yêu cầu bị cáo phải bồi thường 01( một) m t dây chuyền bạc h nh m t quỷ, trị giá 300.000 đồng.Đối với 01 c c bạc có trọng lượng 02 cây anh T đã bán cho khách qua đường, anh C và anh T tự thỏa thuận bồi thường.
V thứ 3 : Khoảng 14h ngày 18/8/2017, bị cáo H điều khiển e máy Wave màu đen BKS 30N4-8155 đến c a hàng vàng Đ địa chỉ số 238 đường Đ, quận H, thành phố H do chị Nguyễn Thị H làm chủ cướp giật 01 sợi dây chuyền bạc kiểu vảy rồng trọng lượng khoảng 4,5 cây trị giá khoảng 2.250.000 đồng. Sau đó bị cáo mang bán cho anh Phạm Ngọc T là chủ c a hàng vàng bạc K, địa chỉ số 8 đường N, phường T, quận H, thành phố H được số tiền 1.800.000đồng. Ngày 24/8/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an quận Hoàng Mai đã dẫn giải và ác định được bị cáo H đã bán sợi dây chuyền cho anh T. Sau khi mua anh T đã chế tác sợi dây chuyền bạc thành 08 nhẫn, 06 m t dây chuyền, 26 hạt vòng. Anh Phạm Ngọc T đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra toàn bộ số tài sản trên. Anh T yêu cầu bị cáo H phải hoàn trả lại cho anh số tiền 1.800.000 đồng.
V thứ 4: Khoảng 11h ngày 21/8/2017, bị cáo H điều khiển e máy Wave màu đen BKS 30N- 8155 đến c a hàng vàng T địa chỉ số 6 đường N, phường T, quận H, thành phố H do anh Trần Xuân T làm chủ, cướp giật 01 sợi dây chuyền bạc trọng lượng khoảng 3 cây trị giá khoảng 2.500.000đồng và 01 lắc bạc trọng lượng khoảng 3,5 cây trị giá khoảng 1.500.000 đồng. Trên đường đi, bị cáo đã làm rơi chiếc lắc tay. Còn sợi dây chuyền bị cáo mang bán cho Trần Văn B c a hàng vàng bạc T, địa chỉ số 229 đường T, quận H, thành phố H được số tiền 1.300.000 đồng. Ngày 24/8/2017, cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an quận Hoàng Mai đã dẫn giải và ác định được bị cáo đã bán sợi dây chuyền cho anh B. Anh B đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 sợi dây chuyền bạc. Anh B yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho anh số tiền 1.300.000đồng.
Về vật chứng vụ án Cơ quan điều tra đã tạm giữ và không thu hồi được:
Theo bản kết luận định giá tài sản trong tố t ng h nh sự số 280 ngày 03/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản quận Hoàng Mai kết luận:
- 01 sợi dây chuyền kim loại màu trắng, dài 64cm, mắt ích rộng 1,4cm trị giá 3.730.000đồng.
- 01 sợi dây chuyền kim loại màu trắng, dài 56,5cm, mắt ích rộng 1,2cm trị giá 1.512.000đồng.
- 01 sợi dây chuyền kim loại màu trắng, hai đầu rồng, dài 59cm, mắt ích rộng 0,8cm trị giá 1.526.000đồng.
- 01 lắc kim loại màu trắng, hai đầu rồng hai móc, dài 22cm, mắt ích rộng 0,8cm trị giá 900.000đồng.
- 08 nhẫn, 06 m t dây, 26 viên bóng kim loại maug trắng, h nh tròn trị giá: 2.057.000đồng.
- 01 c c kim loại màu trắng, kích thước 5 3,5cm trị giá 1.378.000đồng.
* Tổng cộng trị giá tài sản bị cáo Bùi Văn H cướp giật đã thu hồi được là 11.103.000 đồng ( Mười một triệu một trăm linh ba ngh n đồng ).
Vật chứng không thu hồi được :
- 01 chiếc lắc tay bạc của Trần Xuân T, trọng lượng 3,5 cây trị giá
1.500.000đồng bị cáo đã làm rơi mất .
- 01 m t dây chuyền bạc h nh m t quỷ của anh Đ ng Đ nh C, trị giá
300.000 đồng bị cáo đã làm rơi mất. Do tài sản kh ng thu hồi được nên Hội đồng định giá kh ng tiến hành định giá được.
Tổng cộng trị giá tài sản bị cáo Bùi Văn H cướp giật kh ng thu hồi được là:
1.800.000đồng ( Một triệu tám trăm ngh n đồng )
*Tổng cộng trị giá tài sản bị cáo Bùi Văn H cướp giật được là 12.903.000 đồng (Mười hai triệu chín trăm linh ba ngh n đồng).
Đối với chiếc e máy Honda Wave màu đen BKS 30N4- 8155, số máy 2661710; số khung 161693. Bị cáo khai mượn của anh Vũ Mạnh C , trú tại: số 18 ngõ Kt đường Đ, phường T, quận H, thành phố H. Anh C khai, cho bị cáo H mượn e để đi c ng việc, anh C kh ng biết bị cáo s d ng chiếc e trên vào việc cướp giật tài sản. Anh C đề nghị được nhận lại chiếc e máy trên.
Đối với số tiền 2.400.000đồng thu giữ của bị cáo H là tiền bị cáo bán sợi dây chuyền cướp giật được của anh Phan Văn Q đem bán cho anh Phan Văn Q được 3.100.000 đồng. Bị cáo đã ăn tiêu hết 700.000 đồng.
Về vật chứng đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu :
1- Trả lại cho chị Vũ Thị Thu H 01( một) sợi dây chuyền kim loại màu
trắng, dài 64cm, mắt ích rộng 1,4cm.
2- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu P 01(một) sợi dây chuyền kim loại
màu trắng, hai đầu rồng, dài 59cm, mắt ích rộng 0,8cm.
3- Trả lại cho chị Nguyễn Thu H ( 01 sợi dây chuyền bạc đã chế tác )
thành: 08 nhẫn, 06 m t dây, 26 viên bóng kim loại maug trắng, h nh tròn .
4- Trả lại cho anh Trần Xuân T 01( một) sợi dây chuyền kim loại màu
trắng, dài 56,5cm, mắt ích rộng 1,2cm.
5- Trả lại cho anh Đ ng Đ nh C 01( một) c c kim loại màu trắng, kích
thước 5x3,5cm ; 01( một) lắc đeo tay kim loại màu trắng, hai đầu rồng hai móc, dài 22cm, mắt ích rộng 0,8cm .
Về trách nhiệm dân sự yêu cầu giải quyết trong vụ án:
* Bị hại:
- Anh Trần Xuân T, Trú tại : Số 6 đường N, phường T, quận Hoàng Mai,
Thành phố H yêu cầu bị cáo phải bồi thường 01(một) chiếc lắc tay bạc,trọng lượng 3,5 cây trị giá 1.500.000đồng.
- Anh Đ ng Đ nh C,Trú tại: Số 8 ngách 35 ngõ H, quận H, thành phố H yêu cầu bị cáo phải bồi thường 01( một) m t dây chuyền bạc h nh m t quỷ, trị giá 300.000đồng.
* Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan:
- Anh Phan Văn Q, trú tại: Số 201 A8 phố T, quận H, thành phố H yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 3.100.000đồng đã mua của bị cáo 01( một) sợi dây chuyền bạc, dài 64cm, mắt ích rộng 1,4cm.
- Anh Nguyễn Thế A, trú tại: ã H, th n K, tỉnh T yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 2.000.000đồng đã mua của bị cáo 01(một) sợi dây chuyền bạc, hai đầu rồng, dài 59cm, mắt ích rộng 0,8cm.
- Anh Phạm Văn T, trú tại : Tổ 36 phường T, quận H, thành phố H yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 1.800.000đồng đã mua của bị cáo 01( một) sợi dây chuyền bạc (sau đó nấu thành 01 c c bạc).
- Chị Phạm Thị Hương,trú tại : Số 8 đường N, phường T, quận H,thành phố H yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 800.000đồng đã mua của bị cáo 01( một) lắc đeo tay bạc.
- Anh Phạm Ngọc T trú tại : Số 8 đường N, phường T, quận H, thành phố H yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 1.800.000đồng đã mua của bị cáo 01( một) sơi dây chuyền bạc.
- Anh Trần Văn B trú tại: ã T, huyện K, tỉnh T yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 1.300.000đồng đã mua của bị cáo 01( một) sợi dây chuyền bạc, dài 56,5cm, mắt ích rộng 1,2cm.
Tổng cộng số tiền bị hại và người có quyền lợi nghĩa v liên quan yêu cầu bị cáo H bồi thường trách nhiệm dân sự là: 12.600.000đồng (Mười hai triệu sáu trăm ngh n đồng )
Tại bản cáo trạng số 406/CT-VKS-HS ngày 08/12/2017 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội: Truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 136 của Bộ luật h nh sự năm 1999.
Tại phiên tòa: Bị cáo Bùi Văn H thừa nhận vào các ngày từ ngày14/08/2017 đến ngày 23/08/2017 đã Cướp giật tài sản là dây chuyền và lắc đeo tay bằng bạc của chị Vũ Thị Thu H, chị Nguyễn Thị Thu P, anh Đ ng Đ nh C, chị Nguyễn Thị H và anh Trần Xuân T là phạm tội. Nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát quận Hoàng Mai truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Về trách nhiệm dân sự: Trong đơn in t vắng m t, các bị hại anh Trần Xuân T, anh Đ ng Đ nh C và các người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: anh Phan Văn Q, anh Nguyễn Thế A, anh Phạm Văn T, chị Phạm Thị H, anh Phạm Ngọc T, anh Trần Văn B, đều tự nguyện kh ng yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự về số tiền tại cơ quan điều tra đã yêu cầu đối với bị cáo. Anh Vũ Mạnh C đề nghị Hội đồng t
em t được nhận lại chiếc e máy Honda Wave màu đen BKS 30N4- 8155.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền c ng tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng t : Căn cứ khoản 1 Điều 136, điểm s khoản 1 Điều 51, ®iÓm g kho¶n 1 §iÒu 52, §iÒu 38, Điều 48 Bộ luật h nh sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố t ng h nh sự năm 2015. Xö ph¹t: BÞ c¸o Bùi Văn H từ 26 tháng tù đến 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Về h nh phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Trần Xuân T, anh Đ ng Đ nh C và các người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: anh Phan Văn Q, anh Nguyễn Thế A, anh Phạm Văn T, chị Phạm Thị H, anh Phạm Ngọc T, anh Trần Văn B, đều tự nguyện kh ng yêu cầu bồi thường dân sự nên kh ng t.
Về biện pháp tư pháp và lý vật chứng:
- Thu truy nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.400.000đồng.
- Buộc bị cáo phải tiếp t c truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.200.000đồng
- Trả lại anh Vũ Mạnh C 01 chiếc e máy Honda Wave màu đen BKS 30N4-8155, số khung RLHHC1204AY161693, số máy HC12E-2661710.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng t
em t giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được th m tra, t hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng t nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về th m quyền, tr nh tự, thủ t c được quy định trong Bộ luật tố t ng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa bị cáo kh ng có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng; Do đó các hành vi, quyết định tố t ng của các cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Các bị hại: chị Vũ Thị Thu H, chị Nguyễn Thị Thu P, anh Đ ng Đ nh C, chị Nguyễn Thị H và anh Trần Xuân T.
Các người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: anh Phan Văn Q, anh Nguyễn Thế A, anh Phạm Văn T, chị Phạm Thị H, anh Phạm Ngọc T, anh Trần Văn B, anh Vũ Mạnh C đều có đơn in t vắng m t tại phiên tòa nên HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật tố t ng h nh sự năm 2015 tiến hành t theo thủ t c chung.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: X t lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của các bị hại, các người có quyền lợi, nghĩa v liên quan phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án có đủ cơ s kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/08/2017 đến ngày 23/08/2017, trên địa bàn các phường V, phường Đ, phường T, phường T thuộc quận H, thành phố H và phường M thuộc quận H, thành phố H, bị cáo Bùi Văn H đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị Vũ Thị Thu H, chị Nguyễn Thị Thu P, anh Đ ng Đ nh C, chị Nguyễn Thị H và anh Trần Xuân T. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 12.903.000 đồng ( Mười hai triệu chín trăm linh ba ngh n đồng ). Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm h nh sự, nhận thức được hành vi của m nh là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, trực tiếp âm phạm quyền s hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hư ng ấu đến tỉnh h nh trật tự trị an ã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật h nh sự năm 1999.
. Về t nh tiết tăng n ng trách nhiệm h nh sự: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/08/2017 đến ngày 23/08/2017 bị cáo H đã thực hiện nhiều lần hành vi cướp giật tài sản. V vậy, bị cáo bị áp d ng t nh tiết tăng n ng trách nhiệm h nh sự phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật h nh sự năm 1999.
. Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải nên áp d ng quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật h nh sự năm 1999 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm h nh sự cho bị cáo.
. Về nhân thân: Sau khi em t tính chất mức độ hành vi phạm tội, các t nh tiết tăng n ng giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự nhận thấy: Bị cáo có 01 tiền sự chưa hết thời hiệu. Điều đó thể hiện bị cáo có nhân thân ấu, bị cáo liên t c phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, v vậy cần áp d ng h nh phạt nghiêm khắc mới có tác d ng cải tạo giáo d c đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
. Về h nh phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa t thấy bị cáo là lao động tự do, kh ng có thu nhập. V vậy, Hội đồng t quyết định kh ng áp d ng h nh phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 136 của bộ luật H nh sự 1999 đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Trần Xuân T, anh Đ ng Đ nh C và các người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: anh Phan Văn Q, anh Nguyễn Thế A, anh Phạm Văn T, chị Phạm Thị H, anh Phạm Ngọc T, anh Trần Văn B, đều tự nguyện kh ng yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự về số tiền tại cơ quan điều tra đã yêu cầu đối với bị cáo nên HĐXX kh ng t.
. Về biện pháp tư pháp và lý vật chứng:
- Đối với số tiền 2.400.000đồng là tiền bị cáo bán tài sản do cướp giật mà có nên giữ lại truy thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 3.100.000đồng bị cáo bán 01 sợi dây chuyền bạc dạng mắt ích có trọng lượng khoảng 8 cây bị cáo cướp giật của chị Vũ Thị Thu H bán cho anh Phan Văn Q mà có, anh Q kh ng yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên buộc bị cáo phải truy thu nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 3.100.000đồng.
- Đối với số tiền 2.000.000đồng bị cáo bán 01 sợi dây chuyền bạc kiểu dây dừa đầu rồng trọng lượng khoảng 05 cây bị cáo cướp giật của chị Nguyễn Thị Thu P bán cho anh Nguyễn Thế A mà có, anh A kh ng yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên buộc bị cáo phải truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000đồng.
- Đối với số tiền 1.800.000 đồng bị cáo bán 01 sợi dây chuyền bạc trọng lượng khoảng 5 cây bị cáo cướp giật của anh Đ ng Đ nh C bán cho anh Phạm Văn T mà có, anh T kh ng yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên buộc bị cáo phải truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.800.000đồng.
- Đối với số tiền 800.000đồng bị cáo bán 01 chiếc lắc tay cướp giật của anh Đ ng Đ nh C bán cho chị Phạm Thị H mà có, chị H kh ng yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên buộc bị cáo phải truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 800.000đồng.
- Đối với số tiền 1.800.000đồng bị cáo bán 01 sợi dây chuyền bạc kiểu vảy rồng trọng lượng khoảng 4,5 cây cướp giật của chị Nguyễn Thị H bán cho anh Phạm Ngọc T mà có, anh T kh ng yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên buộc bị cáo phải truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.800.000đồng.
- Đối với số tiền 1.300.000 đồng bị cáo bán 01 sợi dây chuyền bạc trọng lượng khoảng 03 cây cướp giật của anh Trần Xuân T cho anh Trần Văn B mà có, anh B kh ng yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên buộc bị cáo phải truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.300.000đồng.
- Đối với số tiền 1.500.000đồng tương đương giá trị 01 lắc bạc trọng lượng khoảng 3,5 cây bị cáo cướp giật của anh Trần Xuân T, chiếc lắc bạc trên bị cáo đã làm mất. Anh T kh ng yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên buộc bị cáo phải truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000đồng.
- Đối với số tiền 300.000 đồng tương đương giá trị 01( một) m t dây chuyền
bạc h nh con quỷ bị cáo cướp giật của anh Đ ng Đ nh C, m t dây chuyền bạc h nh con quỷ bị cáo đã làm mất anh C kh ng yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên buộc bị cáo phải truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền buộc bị cáo phải truy thu nộp ngân sách Nhà nước là 12.600.000 đồng, bị cáo đã bị thu truy nộp số tiền 2.400.000 đồng. Bị cáo còn phải truy nộp tiếp số tiền 10.200.000 đồng.
- Đối với 01 chiếc e máy Honda Wave màu đen BKS 30N4-8155, số khung RLHHC1204AY161693, số máy HC12E-2661710 thu giữ của bị cáo. Qua điều tra ác minh chủ e mang tên Vũ Mạnh C, HKTT : số 18 ngõ K đường Đ, phường T, quận H, thành phố H. Anh C khai, cho bị cáo H mượn e để đi c ng việc, anh C kh ng biết bị cáo s d ng chiếc e trên đi cướp giật tài sản. Hội đồng t
t thấy chiếc e máy Honda Wave màu đen BKS 30N4 – 8155 nên trả lại cho chủ s hữu hợp pháp là anh Vũ Mạnh C.
Đối với anh Phan Văn Q, anh Nguyễn Thế A, anh Phạm Văn T, chị Phạm Thị H, anh Phạm Ngọc T, anh Trần Văn B kh ng biết tài sản bị cáo bán là tài sản do bị cáo cướp giật mà có nên Cơ quan điều tra kh ng lý là có căn cứ.
Đối với anh Vũ Mạnh Cường khi cho bị cáo mượn chiếc e máy Honda Wave màu đen BKS 30N4 – 8155 kh ng biết bị cáo s d ng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra kh ng lý là có căn cứ.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 01/01/2018, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 136 của Bộ luật h nh sự năm 1999, các điều luật quy định t nh tiết tăng n ng, giảm nhẹ, đề uất mức án đối với bị cáo và biện pháp tư pháp, lý vật chứng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
. Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố t ng h nh sự năm 2003; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 M c 1 Danh m c án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí h nh sự sơ th m.
Bị cáo, các bị hại, các người có quyền lợi, nghĩa v liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố t ng h nh sự năm 2015.
V các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp d ng khoản 1 Điều 136, điểm g khoản 1 Điều 48, ®iÓm p kho¶n 1 §iÒu 46 Bộ luật h nh sự năm 1999, §iÒu 38, Điều 48 Bé luËt h×nh sù năm 2015; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố t ng h nh sự năm 2015.
Áp d ng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 M c 1 Danh m c án phí lệ phí Tòa án.
Xö ph¹t:
BÞ c¸o Bùi Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt kh n cấp 24/08/2017.
Về h nh phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với các bị cáo
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và các người có quyền lợi nghĩa v liên quan kh ng yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên Tòa kh ng t.
Về biện pháp tư pháp và lý vật chứng:
- Thu truy nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.400.000đ ( Hai triệu bốn trăm ngh n đồng ).
- Buộc bị cáo phải tiếp t c truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.200.000đ ( Mười triệu hai trăm ngh n đồng ).
- Trả lại anh Vũ Mạnh C 01 chiếc e máy Honda Wave màu đen BKS 30N4 - 8155, số khung RLHHC1204AY161693, số máy HC12E-2661710
Hiện vật chứng đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi c c thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo phiếu nhập vật chứng số: NK2018-00112 ngày 08/02/2018 và giấy nộp tiền vào tài khoản tại Kho bạc Nhà nước quận Hoàng Mai, lập ngày 25/9/2017.
Về án phí : Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngh n) đồng án phí h nh sự sơ th m.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các bị hại và các người có quyền lợi nghĩa v liên quan vắng m t được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt ho c niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKS nhân dân quận Hoàng Mai - Công an quận Hoàng Mai - Chi cục THADS quận Hoàng Mai - Bị cáo - Bị hại - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Trung |