vanban.org

Bản án 41/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 30/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tống Hoài N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Tống Hoài N hình phạt tiền với số tiền 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng), phong tỏa tài khoản số 070096289373 của Tống Hoài N tại Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương tín, Chi nhánh Kiên Giang, Phòng giao dịch Hà Tiên, số tiền phong tỏa 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) cho đến khi có quyết … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tống Hoài N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị; Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2018/HS-ST
Ngày 30-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạc Văn Hên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Út.

2. Ông Trần Văn Sơ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pho, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Ni, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Tống Hoài N, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1998, tại Hà Tiên, Kiên Giang. Nơi cư trú và nơi ĐKHKTT: Khóm 5, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Hoài P và bà Lê Thị T; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: Không; bị tạm giữ theo quyết định tạm giữ số 04/QĐTG-CSKT, ngày 15/9/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang, đến ngày 24/9/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt.

Người làm chứng: Ông Danh T, sinh năm 1978, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ sáng ngày 15/9/2018, Tống Hoài N đang bán cà phê tại quán Khang Trâm thuộc khu phố N, phường M, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang thì có một người phụ nữ Campuchia tên Phil (không rõ họ tên, địa chỉ) đến gặp N để thuê vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ chợ hải sản đến bến phà Bình An với tiền công là 70.000 đồng thì được N đồng ý. Khi N điều khiển xe máy biển kiểm soát 67L6-7850 đến khu vực chợ hải sản thì nhìn thấy một chiếc xe cây bằng gỗ có để sẵn 07 thùng giấy bên trong có chứa thuốc lá điếu nhập lậu, N điều khiển xe máy biển kiểm soát 67L6-7850 kéo theo xe cây có chứa thuốc lá điếu nhập lậu đến khu vực bến phà Bình An thuộc khu phố K, phường T, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang thì bị lực lượng Công an tỉnh Kiên Giang kiểm tra phát hiện bên trong các thùng giấy có 1.300 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO và 600 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Ngoài ra, N còn khai trước đó đã nhiều lần vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho bà Phil nhưng N không nhớ số lượng cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để khởi tố.

Vật chứng trong vụ án:

- 1.300 (một nghìn ba trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero.

- 600 (sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET.

- 01 (một) môtô biển kiểm soát số 67L6-7850 (xe đã qua sử dụng).

- 01 (một) xe cây.

Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKSHT ngày 12/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Tống Hoài N về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tống Hoài N bằng hình phạt tiền từ 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) đến 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng).

Về xử lý vật chứng, thu lợi bất chính, về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 1.300 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero và 600 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET, tịch thu sung công một xe gắn máy biển kiểm soát số 67L6-7850 và một xe cây, buộc bị báo nộp số tiền thu lợi bất chính là 70.000 đồng và buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra-Công an tỉnh Kiên Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Cơ quan điều tra-Công an thành phố Hà Tiên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với vật chứng vụ án cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định vào khoảng 03 giờ sáng ngày 15/9/2018, Tống Hoài N dùng xe gắn máy biển kiểm soát 67L6-7850 kéo theo xe cây để vận chuyển hàng cấm với số lượng 1.900 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero và nhãn hiệu Jet thì bị bắt quả tang nên hành vi vận chuyển hàng cấm của bị cáo N đủ yếu tố cấu thành tội vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít;

b) Thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;

…

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên truy tố bị cáo về tội vận chuyển hàng cấm là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước và ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, bị cáo nhận thức được hành vi vận chuyển hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Đối với người phụ nữ Campuchia tên Phil đã thuê bị cáo vận chuyển hàng cấm nhưng qua điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch và địa chỉ nên không có cơ sở xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Theo lời khai của bị cáo trước đó bị cáo đã vận chuyển hàng cấm nhiều lần cho bà Phil nhưng qua điều tra không xác định được cụ thể số lượng vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Tiên không khởi tố là có căn cứ.

Về thu lợi bất chính: Bị cáo vận chuyển hàng cấm cho bà Phil và được hưởng lợi 70.000 đồng, đây là số tiền thu lợi bất chính cần buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

- 1.300 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero và 600 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) xe cây là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Hongda Wanhai, số loại Wave ZX, màu sơn đỏ, số khung VTTDCHOL4TT002287, số máy VTTJL1P52FMHG002287, biển kiểm soát 67L6-7850 là công cụ dùng vào việc phạm tội, chiếc xe này bị cáo khai đã mua lại của một người lạ mặt, không xác định được nhân thân, địa chỉ. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn chưa xác định được chủ sở hữu. Ngày 16/10/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Tiên đã ban hành thông báo số 1160/TB về việc tìm chủ sở hữu, căn cứ Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015, sau thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu thì tịch thu, sung công quỹ Nhà nước, nếu trong thời hạn này có ai tranh chấp thì được giải quyết bằng một vụ án khác.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Tống Hoài N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Tống Hoài N hình phạt tiền với số tiền 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng), phong tỏa tài khoản số 070096289373 của Tống Hoài N tại Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương tín, Chi nhánh Kiên Giang, Phòng giao dịch Hà Tiên, số tiền phong tỏa 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) cho đến khi có quyết định thi hành án của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

- Về xử lý vật chứng, thu lợi bất chính: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 1.300 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero và 600 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước một xe cây.

Đối với xe gắn máy nhãn hiệu Hongda Wanhai, số loại Wave ZX, màu sơn đỏ, số khung VTTDCHOL4TT002287, số máy VTTJL1P52FMHG002287, biển kiểm soát 67L6-7850, sau 01 năm kể từ ngày 16/10/2018, mà không xác định được ai là chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ Nhà nước, nếu trong thời hạn này có ai tranh chấp thì được giải quyết bằng một vụ án khác.

Buộc bị cáo Tống Hoài N phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 70.000đ (bảy mươi nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Tống Hoài N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ