- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình…"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2018/HS-PT Ngày: 16-3-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Hồ Đ Quang
Bà Trương Thị Lệ Thu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: ông Lê Quang Phiệt- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 16/2018/HSPT ngày 01 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Hữu T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 73/2017/HS-ST ngày 26/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hữu T, sinh ngày: 19/8/1991; trú tại: Tổ dân phố 6, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu H và bà Võ Thị T1; có vợ Nguyễn Thị P ; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: 07/4/2014, bị Công an thành phố Hà Tĩnh ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 500.000 đồng về hành vi“ Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 26/10/2017, Nguyễn Hữu T gọi điện đến số thuê bao 0919799096 của một người đàn ông tên Đ ( không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể ) mua 08 gói ni lông chứa ma túy đá với số tiền 2.000.000 đồng mang về sử dụng. T bỏ 08 gói ni lông ma túy vào vỏ bao thuốc lá màu vàng đi tắc xi đến đường N thuộc phường H, thành phố Hà Tĩnh tìm chỗ sử dụng. Do không tìm được chỗ sử dụng ma túy nên T gọi cho Đinh Sỹ T2 đến chở. Khi đang đứng chờ T bị Công an thành phố Hà Tĩnh phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Tại kết luận giám định số 124/GĐMT-PC54 ngày 29/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh chất tinh thể màu trắng đựng trong 08 gói ni lông gửi đến giám định có trọng lượng 1,6300 gam là Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 78/CTr- KSĐT ngày 28/11/2017 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Hữu T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm h khoản 2 Điều 2 nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14; khoản 3 điều 7; điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Với hành vi phạm tội trên, Tại bản án số: 73/2017/HS-ST ngày 26/12/2017 Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã Quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS 1999; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14; khoản 3 Điều 7 BLHS 2015.
Xử phạt Nguyễn Hữu T 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2017.
Án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng vụ án; tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự; tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 05/01/2018; bị cáo Nguyễn Hữu T có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hữu T khai và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung của bản án sơ thẩm. Bị cáo trình bày ý kiến vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Điều đó đã khẳng định bản án sơ thẩm số 73/2017/HS-ST ngày 26/12/2017 Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Hành vi của bị cáo là tàng trữ trái phép chất ma tuý do bị cáo bị nghiện ma tuý và mua ma tuý để sử dụng; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự an ninh trên địa bàn; ma tuý không những tàn phá sức khoẻ, tài sản của người sử dụng mà còn là nguyên nhân và mầm mống của nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo thực hiện hành vi khi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cấp sơ thẩm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là phù hợp.
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định ở Điều 48 BLHS. Có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS 1999; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ bị cáo nay đã già yếu, mẹ bị cáo bị ung thư, vợ của bị cáo không có việc làm, con mới mất. Trên cơ sở tình tiết giảm nhẹ nêu trên và hoàn cảnh của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng nên giảm nhẹ một phần cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, cần chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo 12 tháng tù.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu Án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
1, Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T, sửa bản án sơ thẩm số 73/2017/HS-ST ngày 26/12/2017 Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194 BLHS 1999; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS 1999; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14; khoản 3 Điều 7 BLHS 2015.
Xử phạt Nguyễn Hữu T 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2017.
2, Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu Án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3, Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - PV 27 – Công an tỉnh Hà Tĩnh; - TAND,CA,VKS,THA sơ thẩm; - Bị cáo; - Lưu HSVA; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Hiền |