vanban.org

Bản án 41/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 04/06/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nghiêm Văn N - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2018/HS-PT
Ngày: 04-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn;

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Luông;

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Lệ Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2018, t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số: 53/2018/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2018 đối với các bị cáo Nghiêm Văn N và Bùi Văn L do có kháng cáo của các bị cáo Nghiêm Văn N và Bùi Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2018/HS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Bị cáo kháng cáo:

1. Họ và tên: Nghiêm Văn N, sinh năm 1 3, t i tỉnh Thanh Hóa. Nơi đăng ký h khẩu thư ng trú: óm M, x N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi đăng ký t m trú: Khu phố 2, phư ng , thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình đ học vấn: 12/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nghiêm Văn Tr, sinh năm 1973 và bà Mai Thị T, sinh năm 1 75; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị b t t ngày 16/01/2017 và t m giam cho đến nay; bị cáo có đơn rút kháng cáo trước khi m phiên tòa nên không trích xuất.

2. Họ và tên: Bùi Văn L, sinh năm 1 8 , t i tỉnh Bình Dương. Nơi đăng ký thư ng trú: Số nhà A, tổ 11, khu phố 2, phư ng , thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình đ học vấn: 8/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Th và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/8/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử ph t 20 hai mươi tháng tù về t i Giao cấu với tr em theo Bản án hình sự sơ thẩm số 160/2013/HS-ST. Bị cáo bị b t t ngày 16/01/2017 và t m giam cho đến nay; bị cáo có mặt t i phiên tòa.

Trong v án còn có 02 ngư i có quyền lợi, nghĩa v liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, n i dung v án được tóm t t như sau:

Khoảng 13 gi 40 phút ngày 16/01/2017, Đ i Cảnh sát điều tra t i ph m về ma túy – Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương phối hợp Công an phư ng , thành phố T, tỉnh Bình Dương phát hiện và b t quả tang Mai Văn Ng có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, thu giữ: 01 m t gói nylon miệng hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu tr ng; Ng khai mua của Nghiêm Văn N để sử d ng.

Đến khoảng 16 gi 00 phút cùng ngày 16/01/2017, Đ i Cảnh sát điều tra t i ph m về ma túy – Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương phối hợp Công an phư ng , thành phố T, tỉnh Bình Dương kiểm tra hành chính quán cà phê T khu phố 2, phư ng , thành phố T, tỉnh Bình Dương do Nghiêm Văn N làm chủ và phát hiện N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng ngủ của N, thu giữ: 01 m t gói nylon hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu tr ng; N khai mua của ngư i nam tên H và Bùi Văn L để sử d ng và bán trái phép cho các con nghiện trên địa bàn thành phố T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố T m i Bùi Văn L về tr s công an làm việc và ra lệnh b t khẩn cấp đối với Bùi Văn L.

Quá trình điều tra, Nghiêm Văn N, Bùi Văn L khai nhận:

T tháng 11 năm 2016 cho đến khi bị b t, để có ma túy sử d ng và bán l i cho các con nghiện; N đ mua trái phép chất ma túy của L được 04 bốn lần, vào các ngày 03/11/2016, 08/11/2016, 12/11/2016 và ngày 18/11/2016. Mỗi lần, N đều mua ma túy với số tiền 200.000 đồng. Riêng lần thứ tư vào ngày 18/11/2016, N mua ma túy của L với số tiền 300.000 đồng. Ngoài ra, vào ngày 14/01/2017, N còn mua ma túy của ngư i nam tên H không rõ họ tên, địa chỉ c thể t i khu vực Ng ba T, thị x T, tỉnh Bình Dương với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua ma túy về, N đem phân ra và bán l i cho Mai Văn Ng được 03 ba lần vào các ngày 18/11/2016, 14/01/2017, 16/01/2017 với số tiền 200.000 đồng/lần và bán l i cho các con nghiện khác không rõ họ tên, địa chỉ c thể trên địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương.

T i Kết luận giám định số 48/MT-PC45 ngày 20/01/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định có trọng lượng là 0,6238 gam ký hiệu M1 ; 0,1037 gam ký hiệu M2 , đều có Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh m c II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 1 /7/2013 của Chính phủ, có hàm lượng là 73,21% ký hiệu M1 , 71,01% ký hiệu M2 . Trọng lượng Methamphetamine trong 0,6238 gam mẫu ký hiệu M1 là 0,4567 gam và trong 0,1037 gam mẫu ký hiệu M2 là 0,0736 gam. Tổng trọng lượng sau giám định là 0,4685 gam.

T i Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2018/HS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đ quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nghiêm Văn N, Bùi Văn L ph m t i Mua bán trái phép chất ma túy .

Áp d ng điểm b khoản 2 Điều 1 4 của B luật Hình sự năm 1 sửa đổi, bổ sung năm 200 : ử ph t bị cáo Bùi Văn L 08 tám năm tù. Th i h n chấp hành hình ph t tù tính t ngày 16/01/2017.

Áp d ng điểm b khoản 2 Điều 1 4; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 B luật Hình sự năm 1 sửa đổi, bổ sung năm 200 : ử ph t bị cáo Nghiêm Văn N 07 bảy năm 06 sáu) tháng tù. Th i h n chấp hành hình ph t tù tính t ngày 16/01/2017.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 17/3/2018, bị cáo Bùi Văn L làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t.

Ngày 2 /3/2018, bị cáo Nghiêm Văn N làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t.

Ngày 2 /4/2018, bị cáo Bùi Văn L có đơn rút kháng cáo.

Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án:

Đối với kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L: Do bị cáo L đ có đơn rút kháng cáo trước khi m phiên tòa nên đề nghị H i đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với bị cáo L.

Đối với kháng cáo của bị cáo Nghiêm Văn N: ác định t i danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp d ng đối với bị cáo N là có căn cứ, đúng ngư i, đúng t i. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t nhưng t i Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, đề nghị H i đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s n i dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đ được tranh t ng t i phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đối với kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L, xét thấy: Bị cáo L đ có đơn rút kháng cáo. Việc rút kháng cáo của bị cáo L là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên H i đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo L.

[2] Đơn kháng cáo của bị cáo Nghiêm Văn N lập ngày 29 tháng 3 năm 2018 được thực hiện trong th i h n luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết v án theo thủ t c phúc thẩm.

[3] T i phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nghiêm Văn N đ khai nhận hành vi ph m t i thống nhất như n i dung bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, có đủ cơ s xác định: Nghiêm Văn N đ nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho Mai Văn Ng và các đối tượng khác trên địa bàn thành phố T. Riêng ngày 16/01/2017, N đ tàng trữ trái phép 0,6238 gam ma túy Methamphetamine để bán cho những ngư i nghiện ma túy thì bị phát hiện b t giữ. Hành vi bị cáo N thực hiện đ đủ yếu tố cấu thành t i Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung được quy định t i điểm b khoản 2 Điều 194 của B luật Hình sự năm 1 được sửa đổi, bổ sung năm 200 .

[4] Hành vi của bị cáo N là rất nguy hiểm cho x h i, trực tiếp xâm ph m đến chế đ quản lý đ c quyền các chất gây nghiện của Nhà nước. Về nhận thức, bị cáo N biết ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán của bị cáo đe dọa nghiêm trọng đến an toàn trật tự công c ng, sức khỏe của ngư i nghiện và sự phát triển lành m nh của x h i; là m t trong những nguyên nhân làm phát sinh hiểm họa bệnh tật và các t i ph m hình sự khác. Bị cáo là n n nhân của ma túy, nhận thức được tác h i của ma túy nhưng để có tiền mua ma túy sử d ng nhằm thỏa m n cơn nghiện, bị cáo đ bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi ph m t i. Bị cáo N có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi ph m t i của mình theo quy định của pháp luật.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nghiêm Văn N về t i Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định t i điểm b khoản 2 Điều 1 4 của B luật Hình sự năm 1 được sửa đổi, bổ sung năm 200 là có căn cứ, đúng ngư i, đúng t i và đúng pháp luật.

[5] Bị cáo Nghiêm Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t nhưng t i Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo N không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. ét thấy, mức hình ph t mà Tòa án cấp sơ thẩm đ xét xử đối với bị cáo N là phù hợp với tính chất, mức đ hành vi ph m t i của bị cáo. Đồng th i, Tòa án cấp sơ thẩm đ xem xét, áp d ng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình ph t là không có cơ s chấp nhận.

[6] Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ s .

[7] Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết th i h n kháng cáo, kháng nghị.

[8] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nghiêm Văn N phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của B luật Tố t ng hình sự năm 2015,

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Bùi Văn L.

2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nghiêm Văn N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2018/HS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Áp d ng điểm b khoản 2 Điều 1 4; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của B luật Hình sự năm 1 sửa đổi bổ sung năm 200 ,

Xử ph t: Bị cáo Nghiêm Văn N 07 (bảy năm 06 (sáu) tháng tù về t i Mua bán trái phép chất ma túy . Th i h n chấp hành hình ph t tù tính t ngày 16/01/2017.

3. Án phí hình sự phúc thẩm:

Áp d ng khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng v Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nghiêm Văn N phải n p số tiền 200.000 hai trăm ngàn đồng.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết th i h n kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.

Cỡ chữ