vanban.org

Bản án 41/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn V L. Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Huỳnh V, sinh ngày 08/02/2009. Giao cháu Nguyễn Huỳnh V cho chị Nguyễn Thị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn V L không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thuận và Nguyễn Văn Lắm"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 41/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 12-6-2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM – TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Sơn Thanh Huyền.

2. Ông Đỗ Tứ Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Quyên - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

- Kiểm sát viên Vieän Kieåm saùt nhaân daân huyeän Vuõng Lieâm không tham gia phiên tòa.

Ngày 12 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2018, về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2018/QĐXX-ST ngày 22 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyeân ñôn: Chị Nguyễn Thị T – sinh ngày 10 tháng 12 năm 1981 (có mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bò ñôn: Anh Nguyễn V L - sinh năm 1972 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp K, xã N, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 28/12/2017 nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn L do quen biết tự tìm hiểu nhau rồi tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới vào năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Thành Đông, huyện Vũng Liêm vào ngày 23/02/2009.

Sau ngày cưới chị và anh L sống bên gia đình chị khoảng 03 năm. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn.

- 1 -

Nguyên nhân do vợ chồng thường hay cự cải, anh L không quan tâm chăm sóc, lo lắng cho gia đình. Chị và anh L đã ly thân từ tháng 10 năm 2009 cho đến nay.

Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

- Về con chung: Chị và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh V, sinh ngày 08/02/2009. Hiện nay cháu V đang sống với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi dưỡng cháu V và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài saûn chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung phải thu phải trả của vợ chồng: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo đơn xin xác nhận của Công an xã Trung Ngãi, huyện Vũng Liêm ngày 29/12/2017 do chị Nguyễn Thị T cung cấp cho Tòa án thì đương sự Nguyễn V L, sinh năm 1971. Hộ khẩu thường trú: ấp Kinh, xã Trung Ngãi, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long hiện đương sự có mặt tại địa phương. Anh Nguyễn V L đã được Tòa án tiến hành niêm yết đầy đủ các V bản tố tụng nhưng anh L không đến Tòa án để tham gia phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa. Xét việc vắng mặt của anh L không gây trở ngại cho việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L.

Tài liệu, chứng cứ trong vụ án:

Nguyên đơn đã nộp: Đơn khởi kiện ngày 28/12/2017, Giấy trích lục kết hôn; trích lục khai sinh (bản sao); Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu (bản sao); Đơn xin xác nhận; Dịch vụ chuyển phát nhanh.

Bị đơn vắng nên không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết việc hôn nhân giữa chị và anh Nguyễn V L. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Chị Nguyễn Thị T có đơn xin vắng mặt không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Nguyễn V L vắng mặt, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các V bản tố tụng cho anh L nhưng anh L cũng không đến. Nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng bị đơn anh Nguyễn V L.

- 2 -

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn V L do quen biết tự tìm hiểu nhau rồi tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới vào năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Thành Đông, huyện Vũng Liêm vào ngày 23/02/2009 nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh L là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống theo chị T trình bày thì thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẩn là do vợ chồng thường hay cự cải, anh L không quan tâm chăm sóc, lo lắng cho gia đình. Chị và anh L đã không còn sống chung từ tháng 10 năm 2009 cho đến nay. Tại phiên tòa hôm nay chị T yêu cầu ly hôn với anh L, anh L vắng mặt nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Huỳnh V, sinh ngày 08/02/2009. Hiện nay cháu V đang sống với chị T, sau khi ly hôn chị T yêu cầu nuôi dưỡng cháu V và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Tại bảng khai ý kiến ngày 01/3/2018 của cháu V thì cháu V có nguyện vọng sống với chị T, anh L vắng mặt nên giao cháu Nguyễn Huỳnh V cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn V L vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn V L vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 9, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn V L.

Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Huỳnh V, sinh ngày 08/02/2009. Giao cháu Nguyễn Huỳnh V cho chị Nguyễn Thị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn V L không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; thì

- 3 -

người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn V L vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn V L vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Nguyễn Thị T đã nộp theo biên lai thu số N0 0008583, ngày 11/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm. Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/6/2018), để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ