vanban.org

Bản án 41/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qđối với anh Đỗ Quốc H. Chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qđược ly hôn với anh Đỗ Quốc H. Về con chung: Giao cháu Đỗ Ngọc Kiều N- sinh ngày 28/6/2016 cho chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qtrực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đỗ Quốc Hcó quyền trông nom, chăm sóc, nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H HBT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2018/HNGĐ-ST.
Ngày: 16/5/2018.
“V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN H HBT,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Anh Trí

2. Ông Ngô Đình Bảo Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân H HBT, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân H HBT, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Truyền – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân H HBT, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2018/TLST-HNGĐ ngày 10/01/2018, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2018/QĐST-DS ngày 02/4/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2018/QĐST-DS ngày 20/4/2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Mỹ Ngọc Q– Sinh năm 1995 (Có mặt).

Địa chỉ: Khu phố Phú Cường, thị trấn Phú Long, H HBT, tỉnh Bình Thuận.

2.Bị đơn: Anh Đỗ Quốc H– Sinh năm 1992 (Vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố Phú Thành, thị trấn Phú Long, H HBT, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 05/01/2018cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qtrình bày: Chị và anh Đỗ Quốc Hcưới nhau vào năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Phú Long, H HBT, tỉnh Bình Thuận. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện. Sau khi cưới vợ chồng sống tại nhà ở khu phố Phú Thành, thị trấn Phú Long, H HBT. Vợ chồng sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H ngoại tình sống với người phụ nữ khác, vợ chồng thường xuyên cãi nhau bất đồng quan điểm nhiều mặt. Vợ chồng không còn sống chung và quan hệ tình cảm từ tháng 9 năm 2016 đến nay. Trong thời gian không sống chung thì vợ chồng cũng không có gặp nhau để bàn bạc hàn gắn hạnh phúc. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và yêu cầu xin được ly hôn với anh Đỗ Quốc H. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Đỗ Ngọc Kiều N- sinh ngày 28/6/2016 hiện nay con đang ở cùng với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi các con và yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng.

Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn anh Đỗ Quốc Hvắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân H HBT phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qđối với anh Đỗ Quốc H.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án cùng chính quyền địa phương đã nhiều lần đến nhà ông Đỗ Quốc Hđể tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông H không đến Tòa án H để cung cấp tài liệu chứng cứ gì nhằm bảo vệ quyền lợi của ông nên Tòa án H không thể tiến hành các thủ tục tố tụng như lập biên bản về việc tiếp nhận công khai chứng cứ và hòa giải vụ án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Sự vắng mặt của ông Đỗ Quốc Hkhông thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa, ông H được Tòa án giao các văn bản tố tụng nhưng ông đã không đến Tòa, chứng tỏ ông đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng, không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Đỗ Quốc H.

1.Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2018/QĐST-DS ngày 02/4/2018 đã ghi quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, qua thẩm tra tài liệu chứng cứ và các đương sự xác định yêu cầu của mình tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thị trấn Phú Long, H HBT, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân H HBT có thẩm quyền giải quyết.

2. Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử phân tích như sau: Theo lời khai của chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qthì chị và anh Đỗ Quốc Hcó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Long nên là hôn nhân hợp pháp. Chị Quỳnh khai nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn vợ chồng là do anh H ngoại tình sống với người phụ nữ khác, vợ chồng thường xuyên cãi nhau bất đồng quan điểm nhiều mặt. Xuất phát từ nguyên nhân nêu trên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qvà anh Đỗ Quốc Hrất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Mỹ Ngọc Quỳnh.

3. Về con chung: Chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qkhai phù hợp các tài liệu có tại hồ sơ là vợ chồng có 01 con chung tên Đỗ Ngọc Kiều N- sinh ngày 28/6/2016. Hiện nay cháu đang ở với chị. Chị Quỳnh yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu và yêu cầu cấp dưỡng 1.000.000đ/tháng cho đến khi cháu Ny đủ 18 tuổi. Xét thấy việc chị Quỳnh yêu cầu được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh H cấp dưỡng 1.000.000đ/tháng là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

4. Về tài sản và nợ: Chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qkhông yêu cầu giải quyết nên Tòa không xem xét.

5.Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qlà nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Anh Đỗ Quốc Hkhông phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nhưng phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

2.Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qđối với anh Đỗ Quốc H. Chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qđược ly hôn với anh Đỗ Quốc H.

- Về con chung: Giao cháu Đỗ Ngọc Kiều N- sinh ngày 28/6/2016 cho chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qtrực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đỗ Quốc Hcó quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Đỗ Quốc Hphải cấp dưỡng nuôi cháu Đỗ Ngọc Kiều N1.000.000đ/tháng cho đến khi cháu Ny trưởng thành.

3.Về án phí, lệ phí: Chị Nguyễn Mỹ Ngọc Qlà nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị Quỳnh đã nộp đủ 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0014901 ngày 10/01/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự H HBT, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.

Anh Đỗ Quốc Hkhông phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nhưng phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

4.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Đỗ Quốc Hvắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

“Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015”.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ