- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Nhanh C - Lê HồngP"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| HUYỆN GIỒNG TRÔM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE [ Bản án số: 41/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31/5/2018 “V/v Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thế Trang Đền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đăng Hồng Sơn
2. Ông Lê Văn Cảnh
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hiền, Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Ngày 11 tháng 5 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 526/2017/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Nhanh C, sinh năm: 1984; Địa chỉ: ấp Tân Hòa, xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Lê Hồng P, sinh năm: 1984; Địa chỉ: ấp Tân Hòa, xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 23/11/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Bùi Thị Nhanh C trình bày:
Chị và bị đơn là anh Lê Hồng P chung sống với nhau vào năm 2004 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 20/12/2004. Sau khi cưới vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng đến năm 2013 thì xảy ra mâu thuẩn. Nguyên nhân chính xảy ra mâu thuẩn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cự cãi, anh P thường hay thường hay nhậu nhẹt và còn quan hệ với người phụ nữa khác. Chị đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và sống ly thân từ tháng 5/2014 cho đến nay. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay chị thấy rằng chị không còn tình cảm với anh P nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh P.
Trang 1
Trong quá trình chung sống chị và anh P có 01 con chung là cháu Lê Thị Hồng Nhung, sinh ngày 19/10/2005, hiện tại do chị đang trực tiếp nuôi dưỡng từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung và chị yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con theo quy đinh pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung chị Nhanh C khai không có.
Tại phiên tòa, chị Nhanh C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Chị thay đổi về nội dung cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã thông báo và tổ chức các phiên hòa giải nhưng anh P đều vắng mặt không lý do.
Do không thể tiến hành hòa giải được, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 02 tháng 5 năm 2018, anh P cũng vắng mặt.
Tại phiên tòa sơ thẩm được mở lại vào ngày hôm nay nhưng anh P vắng mặt không lý do, chị Nhanh C có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh P.
NHẬN XÉT CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Anh Lê Hồng P là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh P.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nhanh C và anh P chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào ngày 20/12/2004 nên quan hệ hôn nhân của anh chị được coi là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Theo chị Nhanh C trình bày thì sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẩn. Nguyên nhân là do vợ chồng bắt đầu phát sinh ra nhiều bất đồng trong cuộc sống, vợ chồng thường hay cải nhau, anh P không quan tâm đến vợ con, anh P thường hay nhậu nhẹt và còn quan hệ với người phụ nữ khác. Đến khi chị không thể sống chung với anh P được nữa chị quyết định bỏ đi và quyết định xin ly hôn với anh P. Trong quá trình ly thân cho đến nay, anh P cũng không quan tâm đến vợ con. Chị và anh P sống ly thân với nhau từ tháng 5/2014 cho đến nay, không có thời gian đoàn tụ. Do chị không còn tình cảm vợ chồng với anh P nữa nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P. Tòa án đã tiến hành thông báo tổ chức phiên hòa giải với mục đích là hòa giải cho anh chị đoàn tụ. Tuy nhiên, anh P đã bỏ mặc không tham gia. Mặt khác, trong thời gian ly thân anh P cũng không quan tâm chăm sóc chị Nhanh C và con chung, không cùng cải thiện tình trạng hôn nhân hiện tại của anh chị để kéo dài đời sống chung mà anh bỏ mặc cho chị Nhanh C tự giải quyết. Tòa án đã động viên chị Nhanh C trở về hàn gắn đoàn tụ nhưng chị Nhanh C vẫn cương quyết yêu cầu xin ly hôn với anh P.
Xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử
Trang 2
chấp nhận yêu cầu của chị Nhanh C để giải quyết cho chị Nhanh C được ly hôn với anh P.
- Về con chung: Chị Nhanh C và anh P có 01 con chung là cháu Lê Thị Hồng Nhung, sinh ngày 19/10/2005, Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị Nhanh C và anh P sống ly thân cho đến nay, chị Nhanh C là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồng Nhung, chị vẫn đảm bảo quyền và lợi ích cho trẻ, cháu Nhung do chị Nhanh C trực tiếp nuôi dưỡng đã ổn định. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định và không nên làm xáo trộn về tâm lý của trẻ nên chấp nhận yêu cầu của chị Nhanh C được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên. Mặc khác, cháu Hồng Nhung đã trên 07 tuổi, Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của cháu Nhung theo quy định của pháp luật. Cháu muốn sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị Nhung là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, chị Nhanh C không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị Nhanh C, không trái với quy định pháp luật nên ghi nhận.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nhanh C khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
- Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nhanh C phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 2 Điều 227 Luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Bùi Thị Nhanh C được ly hôn với anh Lê Hồng P.
2. Về con chung: Ghi nhận chị Bùi Thị Nhanh C và anh Lê Hồng P có 01 con chung là cháu Lê Thị Hồng Nhung, sinh ngày 19/10/2005. Giao con chung cho chị Nhanh C tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con (Do chị Nhanh C không có yêu cầu).
Anh Lê Hồng P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh P thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84, Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Trang 3
3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Nhanh C khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Bùi Thị Nhanh C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nhanh C đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0013719 ngày 28/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm; chị Nhanh C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể: Đối với nguyên đơn có mặt tại tòa thì kể từ ngày tuyên án; Đối với bị đơn vắng mặt tại tòa thì kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy Ban nhân dân xã nơi cư trú của bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Giồng Trôm; - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm; - TAND tỉnh Bến Tre; - Lưu hồ sơ vụ án. Trang 4 | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thế Trang Đền |