vanban.org

Bản án 41/2017/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 30/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Ph và bị cáo Hoàng Văn Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Phạt bị cáo Hoàng Văn Ph 13(mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 28/6/2017). Phạt bị cáo Hoàng Văn Ng 12(mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 28/6/2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Phòng và đồng phạm - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Ph và bị cáo Hoàng Văn Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 41/2017/HS-ST
Ngày 30-11-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Ngọc Anh

Ông Trần Quang Trung

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Thanh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2017/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2017/QĐXXST-HS ngày 15/11/2017 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Văn Ph, sinh ngày 02/3/1997 tại xã Châu H, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng B; Nơi cư trú: thôn Thanh Ch, xã Châu H, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng B; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L và bà Nguyễn Thị X; vợ, con chưa có; tiền án: không, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2017 cho đến nay, có mặt.

2. Hoàng Văn Ng, sinh ngày 12/8/1993 tại xã Cảnh H, huyện Quảng T, tỉnh Quảng B; Nơi cư trú: thôn Cây Th, xã Cảnh H, huyện Quảng T, tỉnh Quảng B; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Ng và bà Nguyễn Thị L; vợ, con chưa có; tiền án: không, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2017 cho đến nay, có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Anh Cao Xuân H, trú tại: thôn Cây Th, xã Cảnh H, huyện Quảng T, tỉnh Quảng B, vắng mặt.

Anh Hoàng Văn H, trú tại: thôn Cây Th, xã Cảnh H, huyện Quảng T, tỉnh Quảng B, vắng mặt.

Anh Cao Xuân Tr trú tại: thôn Cây Th, xã Cảnh H, huyện Quảng T, tỉnh Quảng B, vắng mặt.

Ông Nguyễn Văn Kh, trú tại: thôn Đông Ph, xã Quảng Tr, huyện Quảng T, tỉnh Quảng B, vắng mặt.

Ông Võ Văn Kh, trú tại: thôn Đông Ph, xã Quảng Tr, huyện Quảng T, tỉnh Quảng B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 28/6/2017 Hoàng Văn Ng và Cao Xuân H cùng đi xe mô tô biển kiếm soát 73E1-252.81 từ thôn Cây Th, xã Cảnh H, huyện Quảng T đến thôn Thanh Ch, xã Châu H, huyện Tuyên H để gặp Hoàng Văn Ph, H là người điều khiển xe. Sau đó Ph nhờ H chở Ph xuống chợ C, xã Tiến H, huyện Tuyên H để lấy tiền mà trước đó Ph đã cầm cố điện thoại, rồi cả ba người H, Ph và Ng cùng chở nhau đến tiệm cầm đồ Hương Y thuộc xã Tiến H, huyện Tuyên H. Lúc này một mình Ph vào tiệm cầm đồ lấy số tiền 400.000 đồng và quay ra nói đi mượn xe máy để đi mua ma túy về sử dụng, thì Ng nói để Ng chở đi. Ng điều khiển xe chở Ph và H đến địa phận thuộc thôn Cây Th, xã Cảnh H, huyện Quảng Tr thì gặp Hoàng Văn H và Phạm Tiến L cùng Trú tại thôn Cây Th, xã Cảnh H và Ph nói với Ng và L đưa thêm 100.000 đồng để mua được nhiều ma túy hơn. Lúc này L đồng ý và đưa cho Ph 100.000 đồng. Ph điều khiển xe mô tô chở Ng xuống thị xã Ba Đ mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng của một người phụ nữ tên “Hiền”, không rõ địa chỉ ở đâu, nhưng Ph chỉ trả cho người phụ nữ số tiền 490.000 đồng, còn 10.000 đồng Ph nói nợ hôm sau trả. Sau khi mua xong, Ph tiếp tục điều khiển xe chở Ng ngồi sau cầm gói ma túy đi theo hướng Tây quốc lộ 12A đến Trạm y tế xã Quảng Tr, huyện Quảng T, tại đây Ng đưa gói ma túy từ tay mình cho Ph cầm, còn Ng đi vào Trạm y tế để mua kim tiêm thì bị tổ công tác của Công an huyện Quảng T bắt quả tang và lập biên bản, niêm phong vật chứng gửi Cơ quan chuyên môn trưng cầu giám định để xử lý theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 517/GĐ-PC54 ngày 29/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Mẫu ký hiệu gửi giám định là Hêrôin có trọng lượng 0,426 gam, nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 20, danh mục I của Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Các bị cáo biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Bản cáo trạng số 32/VKS-MT ngày 11 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng T đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn Ph và Hoàng Văn Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội, xử phạt bị cáo Hoàng Văn Ph từ 15 – 18 tháng tù, xử phạt bị cáo Hoàng Văn Ng từ 12 – 15 tháng tù; về vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì đựng mẫu vật giám định số 517/GĐ-PC54 do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình niêm phong ngày 29/6/2017, bên trong có chứa chất ma túy.

Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng T đã thu giữ 01 gói ma túy và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 73E1-252.81, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER qua xác minh xác định xe thuộc quyền sở hữu của ông Cao Xuân Tr nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Tr. Riêng 01 chiếc điện thoại di động mà bị cáo Ph đã dùng làm phương tiện liên lạc để mua ma túy, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Quảng T đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Điều tra Công an huyện Quảng T, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng T, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Như vậy hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thống nhất khai và thừa nhận vào ngày 28/6/2017 Hoàng Văn Ph điều khiển xe mô tô chở Hoàng Văn Ng đến Thị xã Ba Đ mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng của một người phụ nữ có tên gọi “Hiền” nhưng không rõ địa chỉ cư trú ở đâu, với mục đích để sử dụng. Sau đó Ph chở Ng ngồi sau cầm gói ma túy đến Trạm y tế xã Quảng Tr, tại đây Ng đưa gói ma túy cho Ph cầm để vào Trạm mua kim tiêm, trong lúc Ng đi vào Trạm để mua, còn Ph đứng ngoài thì bị Tổ công tác Công an huyện Quảng T phát hiện bắt giữ.

Theo quy định tại danh mục I, ban hành kèm theo Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam thì Heroin là một trong những chất ma túy rất độc hại do Nhà nước trực tiếp quản lý, mọi hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển hay tàng trữ trái phép chất ma túy này đều phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên để thỏa mãn nhu cầu của bản thân các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn thống nhất và phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng với vật chứng và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận: các bị cáo Hoàng Văn Ph và Hoàng Văn Ng đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích, gây nghiện mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nói chung và gây nên sự bức xúc đối với nhân dân trên địa bàn nói riêng. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, phát triển bình thường về mặt thể chất, đủ khả năng để nhận thức được sự nguy hiểm và tác hại của các vấn đề về tệ nạn ma túy. Hơn nữa, hiện nay nhà nước cũng như các ngành, các cấp không ngừng quan tâm trong việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng về tác hại to lớn của loại tệ nạn này đối với xã hội. Lẽ ra các bị cáo phải là người hiểu rõ, thể hiện vai trò, trách nhiệm của một người thanh niên trong thời đại mới để tự phòng tránh, đồng thời tuyên truyền cho mọi người về tác hại của tệ nạn ma túy. Thế nhưng các bị cáo lại không nhận thức được điều đó và chọn cho mình một lối sống buông thả, hoàn toàn đi ngược lại với xu thế phát triển chung của toàn xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn là mầm mống làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Tại thời điểm phạm tội mặc dù các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận mình là đối tượng đã từng sử dụng ma túy, vì vậy thiết nghĩ cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ tác dụng và điều kiện cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại p khoản 1 Điều 46, Bộ luật hình sự cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Do chính sách pháp luật thay đổi, thực hiện chính sách có lợi cho bị cáo, vì vậy cần áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội để xem xét quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Đối với đối tượng Phạm Tiến L đã đưa cho bị cáo Ph 100.000 đồng để mua ma túy, nhưng sau khi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng T có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì Phạm Tiến L đã bỏ trốn khỏi địa phương, hiện đang bị truy nã và đối tượng có tên “Hiền” không rõ địa chỉ nơi cư trú là người đã bán ma tuy cho hai bị cáo Ph và Ng, Cơ quan điều tra đang tiến hành điều tra làm rõ hai đối tượng này và sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch đã thu giữ 01 gói chất bột màu trắng, theo kết quả giám định có chứa thành phần Hêrôin. Xét thấy đây là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp vật cấm lưu hành. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: các bị cáo Hoàng Văn Ph và Hoàng Văn Ng phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Ph và bị cáo Hoàng Văn Ng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội, xử:

Phạt bị cáo Hoàng Văn Ph 13(mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 28/6/2017).

Phạt bị cáo Hoàng Văn Ng 12(mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 28/6/2017).

Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Văn Ph và bị cáo Hoàng Văn Ng với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì đựng mẫu vật giám định số 517/GĐ-PC54 do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình niêm phong ngày 29/6/2017, bên trong có chứa chất ma túy. Vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, có các đặc điểm như được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Quảng Trạch với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch ngày 16 tháng 10 năm 2017.

Về án phí: Căn cứ Điều Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Khóa 14, xử: buộc bị cáo Hoàng Văn Ph và bị cáo Hoàng Văn Ng mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Án xử sơ thẩm, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/11/2017).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ