vanban.org

Bản án 41/2017/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0001651 ngày 14/6/2017 của Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác nhận chị Đinh Thị T đã nộp đủ tiề…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đinh Thị T xin ly hôn anh Hoàng Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN HIỆP HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2017/HNGĐ-ST
Ngày 28/8/2017

V/v: Tranh chấp về hôn nhân và

gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Ngọc Trứ.

2/ Ông Nguyễn Xuân Trư ng.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Ngọc Mai- Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Tươi- Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 8 năm 2017, tại Hội trư ng xét xử Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 142/2017/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2017/QĐXX- ST ngày 03 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T, sinh năm 1977 có m t).

Địa chỉ: Đội 8, thôn Đ, xã Đ, huyện T, tHnh phố H.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1968 Vắng m t).

Địa chỉ: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh B.

- Ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1971 Vắng m t).

Địa chỉ: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 07/6/2017, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn (chị Đinh Thị T) trình bày: chị và anh Hoàng Văn T kết hôn có được tự do tìm hiểu, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, thành phố H ngày 02/12/2004. Sau khi kết hôn, anh T sống chung cùng chị tại đội 8, xã Đại Đồng, Thạch Thất. Trong quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng sống hạnh phúc chỉ được một th i gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, luôn xảy ra cải vã, vì vậy vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2010 đến nay, hai bên không còn quan hệ tình cảm, liên lạc gì với nhau nữa. Mâu thuẫn vợ chồng có được gia đình hai bên động viên hòa giải nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị T xác định vợ chồng chưa có con chung, hiện nay chị không có thai. Vì vậy, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác, công sức và các quan hệ khác: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn (anh Hoàng Văn T) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nh ng vẫn vắng mặt, vì vậy kh«ng có lời khai trong hồ sơ. Tòa án đã trực tiếp cùng với địa phương về làm việc tại gia đình nhưng anh T vắng m t, gia đình anh Hoàng Văn T- lµ anh trai của anh T) cung cấp như sau: Gia ®×nh ®· nhËn ® îc c¸c th«ng b¸o, quyÕt ®Þnh còng nh giÊy triÖu tËp cña Tßa ¸n vµ th«ng b¸o, giao lại các giấy t của Tòa án cho anh T biÕt, nh ng do anh T hiÖn ®i lµm nghề cai thầu xây dựng ở các nơi, kh«ng cã nhµ th êng xuyªn, chØ thØnh tho¶ng vÒ nhµ lúc nhát lại đi ngay. Gia đình cũng không biết rõ anh T đang làm công trình nào, ở đâu, nhưng vẫn có số điện thoại liên lạc với anh T khi có việc. Anh T có trao đổi lại do bận công việc không thể về Tòa án làm việc được, đề nghị Tòa án cho anh T xin vắng m t khi mở phiên họp kiểm tra chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm. Anh T chỉ biết như vậy và thông báo lại cho Tòa án biết để giải quyết vụ án theo quy định.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (chị Vũ Thị H) trình bày: chị H và anh T kết hôn với nhau ngày 18/8/1989, có đăng ký kết hôn nhưng làm thủ tục đăng ký tại gia đình ông Nguyễn Hồng N- khi đó làm cán bộ tư pháp xã N, ông N đưa giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bảo chị H và anh T ký vào giấy chứng nhận, chị H không ký vào sổ đăng ký kết hôn của UBND xã Ngọc Sơn nên không biết là UBND xã Ngọc Sơn có lưu giữ gì về việc chị H và anh T đăng ký kết hôn hay không. Sau đó chị H và anh T có được cấp giấy đăng ký kết hôn nhưng do th i gian đã lâu chị H không còn lưu giữ được giấy đăng ký kết hôn nữa nên không cung cấp cho Tòa án được. Việc chị T làm đơn xin ly hôn anh T chị không có ý kiến đề nghị gì.

Ông Nguyễn Hồng N ngư i làm chứng) trình bày: Chị Vũ Thị H trình bày th i gian năm 1989 chị H và anh T nh ông N đăng ký kết hôn cho chị H và anh T tại nhà riêng của ông, do lâu ngày ông không thể nhớ được có việc này hay không nên không thể khẳng định ông có làm thủ tục đăng ký kết hôn cho anh T và chị H hay không, đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 24/4/2017 của chị T đây xác định là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Hoàng Văn T (lµ bÞ ®¬n) đã được Toà án triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo hoà giải hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng m t, đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ 2 nhưng đương sự vẫn vắng m t. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 và điểm b khoản 2 §iÒu 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến Hnh xét xử vụ án vắng m t bị đơn có tên nêu trên.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đại Đồng, Thạch Thất, Hà Nội. Tại Tòa án chị Vũ Thị H xác định là vợ của anh Hoàng Văn T và có đăng ký kết hôn ngày 18/8/1989 nhưng không xuất trình được giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Tòa án đã tiến Hành xác minh trong sổ đăng ký kết hôn đang lưu giữ tại UBND xã Ngọc Sơn từ tháng 01/1988 đến tháng 8/1990 không ghi có trư ng hợp anh Hoàng Văn T, sinh năm 1968 đăng ký kết hôn với chị Vũ Thị H, sinh năm 1971 trong th i gian này tại UBND xã Ngọc Sơn. Ông Nguyễn Hồng N khi đó làm công tác tư pháp cũng không xác định được có đăng ký kết hôn cho anh T và chị H th i gian đó hay không. Vì vậy, việc chị H xác định có đăng ký kết hôn với anh T năm 1989 không có cơ sở để kết luận, th i điểm chị H và anh T tổ chức kết hôn theo phong tục địa phương và chung sống với nhau sau th i điểm ngày 01/01/1987, vì vậy không được công nhận là hôn nhân thực tế. Do đó, việc anh T và chị T kết hôn có đăng ký tại xã Đại Đồng, Thạch Thất, H Nội năm 2004 được xác định là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu về việc xin ly hôn của chị T thấy rằng: qua các chứng cứ do các bên xuất trình, l i khai của ngư i làm chứng được biết: vợ chồng chị T, anh T từ khi kết hôn có th i gian chung sống hạnh phúc nhưng tình cảm vợ chồng đã không duy trì phát triển được và sớm phát sinh mâu thuẫn, xuất phát từ việc hai vợ chồng thư ng xuyên cãi nhau. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2010 đến nay, đã cắt đứt quan hệ tình cảm, không còn quan tâm đến nhau. Qua xác minh tại địa phương xác định do anh T và chị T không thư ng xuyên sinh sống tại địa phương nên không xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh T như thế nào, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Tuy nhiên, thực tế chị T và anh T ly thân đã lâu, không còn quan tâm gì tới nhau nữa, anh T không đến Tòa án để làm việc và tham gia hòa giải, không có ý kiến gì về việc chị T có đơn xin ly hôn anh T. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T đã phát triển trầm trọng, đ i sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân gia đình để giải quyết cho chị T được ly hôn anh T là phù hợp, cho nên yêu cầu xin ly hôn của chị T cần được chấp nhận, vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn T là phù hợp. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị T xin ly hôn anh Hoàng Văn T cần được chấp nhận.

[3]. Về con chung: Chị Đinh Thị T xác định vợ chồng chưa có con chung, hiện nay chị không mang thai, vì vậy không xem xét giải quyết.

[4]. Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác, công sức và các quan hệ khác: chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết cho nên không xem xét.

[5]. Về án phí: chị Đinh Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, KSV phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước th i điểm HĐXX nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật; việc chấp Hnh pháp luật của những ngư i tham gia tố tụng, đôi với nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định, bị đơn không chấp Hnh theo quy định của phap luật. Đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng: Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0001651 ngày 14/6/2017 của Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác nhận chị Đinh Thị T đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0001651 ngày 14/6/2017 của Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác nhận chị Đinh Thị T đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

Báo cho đương sự có m t biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng m t được quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Cỡ chữ