vanban.org

Bản án 41/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án hôn nhân gia đình"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2017/HNGĐ-ST.
Ngày: 03 - 8 - 2017
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Thạch

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Tỵ

2. Bà Nguyễn Thị Lợi

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Mai Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện An

Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải

Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Chi – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương,

Toà án nhân dân huyện An Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 127/2017/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2017 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2017/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Chúc, sinh năm 1982

Địa chỉ cư trú: Thôn Lê Lác 1, xã An Hồng, huyện An Dương, thành phố

Hải Phòng; Có mặt tại phiên toà.

2. Bị đơn: Anh Đồng Đức Tài, sinh năm 1976.

Địa chỉ cư trú: Thôn Thuần Tỵ, xã An Hồng, huyện An Dương, thành phố

Hải Phòng; Vắng mặt tại phiên toà (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn, tại các bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn là

chị Nguyễn Thị Chúc trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đồng Đức Tài chung sống với nhau do

tự nguyện và có được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống từ năm 2006. Đến năm 2008, chị và anh Tài mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hồng. Sau khi cưới, chị và anh Đồng Đức Tài chung sống tại gia đình bố đẻ anh Tài ở thôn Lê Lác 1, xã An Hồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hợp nên xảy ra va chạm cãi, chửi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình, chính quyền địa phương khuyên ngăn, hoà giải nhưng không có kết quả mà ngày càng căng thẳng, trầm trọng, không còn khả năng khắc phục. Do mâu thuẫn căng thẳng nên đầu năm 2016, anh Đồng Đức Tài đã chuyển đến cư trú tại thôn Thuần Tỵ, xã An Hồng, sống ly thân với chị. Hiện tại vợ chồng không ai quan tâm và trách nhiệm đến nhau. Nay chị Nguyễn Thị Chúc xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đồng Đức Tài.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Đồng Đức Tuấn – sinh ngày 22

tháng 9 năm 2008, con chung hiện do chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn chị Chúc đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và chị không yêu cầu anh Tài phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản: Vợ chồng tự phân chia nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải

quyết về tài sản.

Đối với bị đơn anh Đồng Đức Tài: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh

Đồng Đức Tài đã được Toà án nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh Tài đến Toà án giải quyết việc chị Nguyễn Thị Chúc xin ly hôn nhưng anh Đồng Đức Tài đều vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến khẳng

định:

- Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án

và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn đã không chấp hành các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 39 Bộ

luật Dân sự, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Chúc được ly hôn với anh Đồng Đức Tài; Về con chung, căn cứ các điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, giao con chung Đồng Đức Tuấn – sinh ngày 22 tháng 9 năm 2008 cho chị Nguyễn Thị Chúc nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung của anh Tài cho chị Chúc, khi nào chị Chúc có yêu cầu sẽ xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự khác, thời hạn nuôi con chung tính từ ngày 04 tháng 8 năm 2017 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Anh Đồng Đức Tài đã được Toà

án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng thủ tục tố tụng nhưng anh Đồng Đức Tài vẫn vắng mặt tại Toà án không có lý do nên căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Đồng Đức Tài.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu,

chứng cứ khác do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án đã xác định chị Nguyễn Thị Chúc và anh Đồng Đức Tài kết hôn với nhau do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hồng, huyện An Dương vào năm 2008. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nên thường xảy ra va chạm cãi, chửi nhau; vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai từ nhiều năm. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Chúc và anh Đồng Đức Tài đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận việc xin ly hôn của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Chúc được ly hôn với anh Đồng Đức Tài.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Chúc và anh Đồng Đức Tài có 01 con

chung Đồng Đức Tuấn – sinh ngày 22 tháng 9 năm 2008, con chung hiện do chị Chúc đang trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn chị Chúc có quan điểm được trực tiếp nuôi dưỡng con chung; anh Tài vắng mặt nên không có quan điểm về việc nuôi con chung khi ly hôn. Xét thấy việc nuôi con chung vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cha mẹ, việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cũng phải đảm bảo cho con chung được nuôi dạy trong điều kiện tốt nhất; con chung hiện đang do chị Chúc trực tiếp nuôi dưỡng, được nuôi dạy và phát triển tốt. Do vậy cần giao con chung cho chị Chúc tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng để con chung có điều kiện ổn định cuộc sống và cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung.

Chị Nguyễn Thị Chúc có quan điểm không yêu cầu anh Đồng Đức Tài

phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị, xét thấy quan điểm của chị Chúc là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung của anh Tài cho chị Chúc, khi nào chị Chúc có yêu cầu sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[4] Về tài sản: Ly hôn chị Nguyễn Thị Chúc có quan điểm vợ chồng tự

phân chia, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản; anh Đồng Đức Tài vắng mặt, không có quan điểm về tài sản. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản.

Khi các đương sự có tranh chấp về việc nuôi con chung hoặc có yêu cầu

giải quyết về tài sản, Toà án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Chúc phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo

quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; các điều 143, 147, 210, 227, 228 Bộ luật Tố

tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2014;

- Căn cứ các điều 6, 7, 9 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016,

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Chúc được ly hôn với anh

Đồng Đức Tài.

2. Về con chung: Xử giao con chung Đồng Đức Tuấn - sinh ngày 22 tháng

9 năm 2008 cho chị Nguyễn Thị Chúc trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung của anh Đồng Đức Tài cho chị Nguyễn Thị Chúc, khi nào chị Chúc có yêu cầu sẽ xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Thời hạn nuôi con tính từ ngày 04 tháng 8 năm 2017 đến khi con chung đủ

18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm

nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Tòa án không xem xét, giải quyết. Khi các đương sự có yêu

cầu sẽ xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Chúc phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ

thẩm để sung quỹ Nhà nước. Chị Chúc đã nộp số tiền 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương (theo Biên lai thu tiền số 0004080 ngày 26 tháng 4 năm 2017) nên không phải nộp nữa.

Nguyên đơn có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án.

Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận

được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì

người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ