vanban.org

Bản án 41/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: - Các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lã Trung K. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lã Thị Phương T, sinh ngày 08/12/2011; Anh Lã Trung K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lã Trung H, sinh ngày 13/9/2002 cho đến khi cháu T, cháu H đủ 18 tuồi. Chị H, anh K k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ HUYỀN - KIÊN"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: - Các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH
---------=---------
Bản án số: 41/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 14/11/2017

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hiệp.

Các Hội thẩm :

- Ông Lưu Danh Sử.

- Ông Nguyễn Văn Phiếu.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Cán bộ Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 14/11/2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 188/2017/TLST-HNGĐ ngày 02/8/2017 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/9/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2017/QĐST ngày 27/10/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983.

Tên gọi khác: Không.

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

(Chị H có mặt tại phiên tòa).

Bị đơn: Anh Lã Trung K, sinh năm 1979.

Tên gọi khác: Không.

Địa chỉ: Phố Đ, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

(Anh Kiên vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 01/8/2017 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Nho Quan nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

1. Về hôn nhân: Ngày 01/01/2002 chị đăng ký kết hôn với anh Lã Trung K tại Ủy ban nhân dân xã Đ trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống cùng với mẹ chị ở thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Từ khi kết hôn cuộc sống vợ chồng chị hạnh phúc được khoảng hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh chửi lẫn nhau. Nguyên nhân chính dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng lại bất đồng quan điểm trong việc làm ăn. Mặt khác, anh K thường xuyên uống rượu rồi về nhà đánh chửi chị, thậm chí anh K còn chửi cả mẹ đẻ của chị. Khoảng năm 2005 cũng vì nguyên nhân trên chị đã làm đơn xin ly hôn anh K nhưng được Ủy ban nhân dân xã Đ hòa giải nên vợ chồng lại đoàn tụ. Tuy nhiên, trong quá trình đoàn tụ vợ chồng vẫn thường xuyên va chạm cãi chửi lẫn nhau cũng vì những nguyên nhân trên. Đến tháng 8/2016 sau khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn đánh chửi lẫn nhau anh K đã bỏ về nhà mẹ đẻ anh kiên ở phố Đ, thị trấn N, huyện N sinh sống. Từ đó vợ chồng chị chính thức sống ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị H nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự sâu sắc, vợ chồng sống ly thân đã lâu nên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lã Trung K.

2. Về con chung: Chị H xác định chị và anh Lã Trung K có 02 con chung là cháu Lã Trung H, sinh ngày 13/9/2002 và cháu Lã Thị Phương T, sinh ngày 08/12/2011. Hiện cháu T đang ở với chị còn cháu H đang ở với anh K. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu T còn anh K tiếp tục nuôi cháu H.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, công nợ chung, quyền sử dụng đất canh tác chung: Chị H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 02/8/2017 Tòa án nhân dân huyện N đã thụ lý vụ án về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện N đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thủ tục pháp luật quy định nhưng anh Lã Trung K không có mặt theo giấy triệu tập nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm.

Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên:

* Về thủ tục tố tụng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện và chấp hành quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn anh Lã Trung K không chấp hành các quy định của pháp luật không đến tham gia phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.

* Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 5; Điều 147; Điều 266; Điều 271; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lã Trung K.

- Về con chung: Giao cháu Lã Thị Phương T, sinh ngày 08/12/2011 cho chị Nguyễn Thị H và cháu Lã Trung H, sinh ngày 13/9/2002 cho anh Lã Trung K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T và cháu H đủ 18 tuổi. Chị H, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chị H đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N nay chuyển sang án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

Theo xác định của Ủy ban nhân dân xã thị trấn N thì thời điểm chị Nguyễn Thị H xin ly hôn với anh Lã Trung K, anh K vẫn sinh sống tại phố Đ, thị trấn N, huyện N cùng với mẹ anh K. Mặt khác, tại biên bản lấy lời khai ngày 18/9/2017 của mẹ đẻ anh K là bà Nguyễn Thị D, bà D cũng xác định hiện anh K đang ở cùng bà. Các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện N bà D đã nhận và thông báo cho anh K xong anh K vì bận công việc nên không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện N vẫn thụ lý vụ án và tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung mà pháp luật đã quy định. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

2. Về hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lã Trung K là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chị H, anh K sống cùng với mẹ chị H tại thôn T, xã Đ, huyện N. Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh K hạnh phúc được khoảng hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh chửi lẫn nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng lại bất đồng quan điểm trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Mặt khác, anh K lại thường xuyên rượu chè rồi về nhà đánh chửi vợ. Năm 2005, chị H đã làm đơn xin ly hôn nhưng được Ủy ban nhân dân xã Đ hòa giải nên vợ chồng lại đoàn tụ. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng vẫn thường xuyên xảy ra va chạm đánh chửi lẫn nhau cũng vì những nguyên nhân trên. Đến tháng 8/2016 sau khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn anh K đã bỏ về nhà mẹ đẻ phố Đ, thị trấn N, huyện N sinh sống. Kể từ đó vợ chồng chị H, anh K đã chính thức sống ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh K đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

3. Về con chung:

Chị Nguyễn Thị H, anh Lã Trung K có 02 con chung là các cháu Lã Trung H, sinh ngày 13/9/2002 và cháu Lã Thị Phương T, sinh ngày 08/12/2011. Từ tháng 8/2016 đến nay cháu T ở với chị H còn cháu H ở với anh K. Mặt khác, tại bản tự khai ngày 03/8/2017 cháu H có nguyện vọng được ở với anh K. Do vậy, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của các cháu theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử thấy cần giao con chung cháu Lã Thị Phương T, sinh ngày 08/12/2011 cho chị Nguyễn Thị H và cháu Lã Trung H, sinh ngày 13/9/2002 cho anh Lã Trung K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T và cháu H đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

4. Về tài sản chung, công nợ chung, quyền sử dụng đất canh tác chung: Chị H xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 5; Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng: - Các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Lã Trung K.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lã Thị Phương T, sinh ngày 08/12/2011; Anh Lã Trung K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lã Trung H, sinh ngày 13/9/2002 cho đến khi cháu T, cháu H đủ 18 tuồi. Chị H, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị H phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ. Chị H đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2013/0000580 ngày 02/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N nay chuyển sang án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, chị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ