vanban.org

Bản án 41/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 2…

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Diễm T và anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn. Về con, tài sản và nợ chung: Không có nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Diễm T - Nguyễn Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 2…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 30/8/2017
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Nguyễn Ngọc Duyên.

2- Ông Hà Minh Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lư Quốc Thịnh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2017, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 102/2017/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 4 năm 2017 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2017/QĐXX-ST, ngày 26 tháng 7 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2017/QĐST- DS, ngày 14 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1985 (có mặt).

2- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp X, xã Nam T1, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05/4/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm T trình bày và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm T và anh Nguyễn Văn Đ cưới nhau vào ngày 10/01/2015, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, đến ngày 03/3/2015 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nam T1, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đ hành hạ, đánh đập chị rất là dã mang dẫn đến gây thương tích cho chị. Từ đó, chị xét thấy tình cảm của vợ chồng không còn nữa nên chị ly thân với anh Đ từ đều năm 2017 cho đến nay.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không có.

Về phần nợ chung: Vợ chồng không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng.

Tại Tòa chị T yêu cầu giải quyết:

Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Đ.

Về con, tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Đ Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đ vắng mặt không có lý do chính đáng và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị T.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị Diễm T vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu nêu trên. Ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt.

Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:

Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay thì Thẩm phán đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.

Về phần nội dung: Xét thấy yêu cầu của chị T là có cơ sở nên chấp nhận, xử cho chị Nguyễn Thị Diễm T và anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, nuôi con và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm.

Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Nguyễn Văn Đ đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn Đ.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm T và anh Nguyên Văn Đ cưới nhau vào ngày 10/01/2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nam T1, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 03/3/2015, do chị T cung cấp nên hôn nhân của chị T và anh Đ là hợp pháp.

Về mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đ đã nhiều lần kiếm chuyện đánh đập chị T rất là thô bạo, sự việc được chình quyền địa phương dần xếp (có đơn xác nhận của chính quyền địa phương ngày 14/8/2017, do chị T cung cấp). Trong quá trình giải quyết vụ án anh Đ cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị T.

Từ đó, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị Nguyễn Thị Diễm T và anh Nguyễn văn Đ được ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con, tài sản và nợ chung: Chị T thừa nhận không có nên không xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Diễm T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số 0004136, ngày 17/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên. Vậy chị T đã nộp đủ tiền án phí.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nêu trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Diễm T và anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn.

2.Về con, tài sản và nợ chung: Không có nên không xem xét.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Diễm T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số 0004136, ngày 17/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên. Vậy chị T đã nộp đủ tiền án phí.

5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị T có mặt biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/8/2017). Đối với anh Đ vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ