- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn H, chấp nhâ ̣n một phần Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Đ.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN ́ TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 41/2017/DS-PT Ngày 22-8-2017 “V/v tranh chấp QSD đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
́
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thông
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Xuân Chiến
Ông Nguyễn Tài Sử.
- Thư ký phiên tòa: Ông Pha ̣m Duy Cườ ng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắ k Nông tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thanh Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông , xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
30/2017/TLPT-DS ngày 24/5/2017 về “tranh chấp hợp quyền sử du ̣ng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2017/DS-ST ngày 14/4/2017 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Đ, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 35/2017/QĐ-PT ngày 10/7/2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H – Có mặt.
Cư trú tại: Thôn 5, xã Q, huyê ̣n Đ, tỉnh Đắk Nông.
Ngườ i đại diê ̣n hợp pháp của nguyên đơn: Bà Hoàng Thị L (theo giấy uỷ quyền ngày 14/7/2017) - Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Vũ Văn L - Luật sư - Công ty luật TNHH H, thuộc Đoàn luật sư TP. H, có mặt.
- Bị đơn: Ông Điểu S – Vắng mặt, đã được triệu tập hợp lệ.
Cư trú tại: Thôn 5, xã Q, huyê ̣n Đ, tỉnh Đắk Nông
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
1. Ông Phạm Thanh T - là Luật sư - Văn phòng Luật sư P, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H – Vắng mặt, đã được triệu tập hợp lệ.
2. Ông Y L và ông Phạm Quang L - là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đăk Nông - Có mặt.
- Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. NLQ1 - Có mặt.
2. NLQ2 – Vắng mặt, đã được triệu tập hợp lệ.
Cư trú tại: Thôn 5, xã Q, huyê ̣n Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Ngườ i là m chứ ng: NLC - Có mặt.
Cư trú tại: Thôn S, xã Q, huyê ̣n Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Ngườ i khá ng cá o: Ông Phạm Văn H - Có mặt.
Viê ̣n trưởng Viện kiểm sá t nhân dân huyê ̣n Đ kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ Á N:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/6/2016 của ông Phạm Văn H và trong quá trinh
̀ giải quyết vụ án bà Hoàng Thị L, Nguyễn Thi ̣ Ngọc A đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Văn H trình bày:
Năm 1993 ông có mua củ a NLC một thử a đất diện tích chiều rộng giáp đườ ng Q uốc lô ̣ 14 là 10m, chiều d ài giáp suối cạn khoảng 150m, vớ i giá 2.500.000đ, đất tọa lạc tại thôn 2, xã Q, huyê ̣n Đ. Nguồn gốc đất của ông Đ là do Ủy bàn nhân dân x ã Q chuyển nhượng, thủ tục chuyển nhượng chưa hoàn tất thì ông Đ chuyển nhượng la ̣i cho ông , hai bên không làm giấy tờ chuyển nhượng, có đến Ủy ban nhân dân xã làm thủ tục kê khai, đến ngày 18/10/1995 được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số H 084608, thử a đất số 50, tờ bản đồ số 05, diê ̣n tích 590 m2, đứng tên ông Phạm Văn H.
Sau khi nhâ ̣n chuyển nhượng, gia đinh ông trồng khoai lang, đến năm 2003
̀
xây dựng nhà ở, đo đạc lại đất thì phát hiện diện tích đất của gia đình ông đã bị hộ ông Điểu S lấn chiếm 03m chiều rộng giáp đường Quốc lộ 14, chiều dài 150m, ông S cho rằng diện tích đất này là của gia đình ông S, nên không cho làm nhà trên phần đất này, gia đình ông đành phải chấp nhận làm nhà trên diện tích đất còn lại và làm đơn nhờ UBND xã giải quyết, nhưng không có kết quả. Do đó, ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Điểu S phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 03m x 150m.
Ngày 07/12/2016, ông H làm đơn thay đổi yêu cầu khở i kiê ̣n buộc ông Điểu S phải trả lại diện tích đất chiều rộng giáp đườ ng quốc lô ̣ 14 là 2.38m, chiều rộng phia sau 0 m, chiều dài 60m, tổng diện tích là 100,1m2.
́
Bị đơn ông Điểu S trình bày:
Diện tích đất gia đình ông đang sử dụng có nguồn gốc được Nhà nước cấp theo chương trình 327 của Chính phủ, cấp vào năm 1994 – 1995, tứ cận thửa đất: Phía Nam giáp đường Quốc lộ 14 dài 17,6m; phía Bắc giáp suối cạn dài 17,6m; Phía Đông giáp đất ông H dài khoảng 100m; phía Tây giáp đất ông Điểu B (nay giáp đất bà T) dài khoảng 100m.
Năm 1995, gia đình ông làm nhà gỗ sử du ̣ng, đến năm 2003 phá nhà gỗ xây dựng nhà cấp 4 trên diện tích đất chiều rộng là 17,5m và cho thuê từ đó đến nay. Thờ i điểm ông xây nhà , gia đình ông H đa lã ̀m nhà kiên cố . Năm 2005 ông làm đơn kê khai xin cấp giấy chứng nhận QSD đất, đến ngày 20/4/2006 được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số AĐ 521917, thử a đất số 49, tờ bản đồ số 5, diê ̣n tích 1750m2, đứ ng tên ông Điểu S.
Ngày 14/5/2016, ông xây nhà tro ̣ trên phần đất phia sau , tiếp giáp vớ i căn
́ nhà phía trước đã cho thuê thi phát sinh tranh chấp. Nay ông H khởi kiện yêu cầu
̀ gia đình ông phải trả cho ông H 100,1m2 đất là không có căn cứ, ông không chấp nhận.
Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan NLQ1 (vợ ông H) thống nhất với ý kiến của ông H, không bổ sung gi thêm.
̀
NLQ2 (vợ ông Điểu S) thống nhất với ý kiến của ông Điểu S, không bổ sung gi thêm.
̀
Tại Bản án sơ thẩm số 06/2017/DS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2017 Tòa án nhân dân huyện Đ áp dụng khoản 5, khoản 7 Điều 166; khoản 1 Điều 170; Điều 203 Luâ ̣t đất đai; Điều 147; Điều 158; Điều 165; Điều 166 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự; Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của ông Phạm Văn H đòi ông Điểu S trả lại diện tích đất lấn chiếm là 66,64m2, cụ thể: Chiều ngang giáp quốc lô ̣ 14 là 2,38m; chiều dài là 56m, chiều ngang phia sau 0m ta ̣i vi ̣ tri giáp ranh vớ i đất của
́
́ ông Điểu S (thử a đất 49 tờ bản đồ số 5 năm 1995) tọa lạc tại thôn 2, xã Q, huyê ̣n Đ, tỉnh Đắk Nông.
Ngoài ra, toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về chị phí chi phí xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ, đi ̣nh giá tài sản, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/4/2017 ông Phạm Văn H làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thầm.
Ngày 26/4/2017, Viê ̣n kiểm sát nhâ ̣ n dân huyê ̣n Đ ban hành Quyết đi ̣nh kháng nghị số 01/KN-DS, kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sử a bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm : Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định kháng nghị.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên toà. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn H và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, huỷ bản án sơ thẩm số 06/2017/DS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2017 Tòa án nhân dân huyện Đ, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Đ giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng: Toà án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ việc thu thập chứng cứ và chứng minh theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân tinh Đẳ
́k Nông phát biểu ý kiến:
Về tố tu ̣ng: Ngườ i tham gia tố tu ̣ng và ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃
c hiê ̣n đúng quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự ta ̣i Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nô ̣i dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn H và chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ. Huỷ bản án sơ thẩm số 06/2017/DS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2017 Tòa án nhân dân huyện Đ, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:
Xét yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn H và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃
c xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tu ̣ng ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xet xứ ̉ xét thấy Toà án cấp sơ thẩm còn có một số vi phạm và thiếu sót cụ thể:
[1]. Ông Điểu S xác định nguồn gốc đất của gia đình ông hiện đang sử dụng được Uỷ ban nhân dân xã Q cấp theo chương trình dự án 327 của Chính phủ vào năm 1994, chiều rộng giáp đường Quốc lộ 14 là 17,6m; chiều dài đến suối cạn khoảng 100m. Tuy nhiên, lời khai của ông Điểu W (BL 22), bà Thị N vợ ông Điểu B (BL 29), ông Điểu B (BL 58) là những người được cấp đất cùng thời điểm với ông Điểu S đều xác định diện tích đất được cấp là 14m chiều rộng giáp đường Quốc lộ 14. Lời khai của bà Thị D thể hiện gia đình bà được cấp đất diện tích 15,5m mặt đường Quốc lộ 14 (BL 28). Lời khai của bà Đặng Thị T tại biên bản làm việc ngày 24/5/2016 (BL 11) thể hiện: Nguồn gốc đất bà đang sử dụng là mua của ông Điểu B 04m và mua của ông Điểu S 01m. Lời khai ông H cũng xác định ông Điểu S có bán cho bà T 01m chiều rộng mặt đường Quốc lộ 14. Xét thấy lời khai của những người nêu trên có nhiều mâu thuẩn nhưng Toà án cấp sơ thẩm không đối chất làm rõ, không thu thập hồ sơ cấp đất cho các hộ theo chương trình dự án 327 và xác minh tại UBND xã Q về chủ trương cấp đất theo dự án 327 mỗi hộ được bao nhiêu mét chiều rộng giáp đường Quốc lộ 14, để làm căn cứ giải quyết vụ án.
[2]. Lời khai của ông Điểu S thể hiện: Khi đo đất cấp cho các hộ có ông Điểu P Chủ tịch hội nông dân xã , ông Điểu W thôn trưở ng cũ , ông Điểu M phó Công an xã , Điểu K phó xã đội , ông Huỳnh Văn S thư ký thôn , ông Điểu Mb ngườ i cùng đi nhâ ̣n đất (BL20). Nhưng cấp sơ thẩm không lấy lời khai của họ để làm rõ tại thời điểm cấp đất mỗi hộ được bao nhiêu mét chiều rộng giáp đường Quốc lộ 14.
[3]. Tại biên bản xác minh theo tờ bản đồ số 05, năm 1995 thể hiện: Thửa đất số 48 cấp cho ông Điểu B cạnh giáp Quốc lộ 14 dài 18m (cạnh xéo), cạnh vuông góc là 17m; Thửa đất số 49 cấp cho ông Điểu S cạnh giáp Quốc lộ 14 dài 16m (cạnh xéo), cạnh vuông góc là 15m; Thửa đất số 50 cấp cho ông H, cạnh giáp Quốc lộ 14 dài 11m (cạnh xéo), cạnh vuông góc dài 10m (BL 107). Kết quả xác minh thửa đất số 48, 49, tờ bản đồ số 05, năm 1995 tại UBND xã Q thể hiện: Thửa số 49 của ông Điểu S có chỉnh lý qua thửa 48 của ông Điểu B có chiểu rộng giáp Quốc lộ 14 là 02m và có chỉnh lý chiều dài của thửa 49 khi cấp giấy CNQSD đất cho ông Điểu S năm 2006. Theo bản đồ gốc tờ bản đồ số 05, năm 1995 thửa 49 của ông Điểu S có diện tích 680m2, sau khi chỉnh lý chiều rộng và chiều dài thì thửa số 49 cấp cho ông Điểu S theo giấy CNQSD đất diện tích 1.750m2 (BL 109). Hình dạng thửa đất số 48 cấp cho ông Điểu B trong giấy CNQSD đất là hình dạng của thửa đất số 49 và ngược lại (BL 110a). Toà án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ được nguyên nhân, lý do tại sao có sự chỉnh lý như đã nêu trên, tại thời điểm chỉnh lý có văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉnh lý bản đồ hay không, tại thời điểm cấp giấy CNQSD đất cho ông H, ông Điểu S, cơ quan có thẩm quyền có trực tiếp đo đạc diện tích đất thực tế hay không, việc cấp đất cho ông Điểu S có bị chồng lên bản đồ giải thửa và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H hay không, đồng thời xác minh về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H và ông Điểu S có đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật hay không để làm căn cứ giải quyết vụ án đảm bảo đúng pháp luật.
[4]. Uỷ ban nhân dân huyện Đ xác định nguyên nhân cấp giấy CNQSD đất cho ông Điểu S thửa đất số 49, tờ bản đồ số 05, diện tích 1750m2 khác với thửa đất số 49, tờ bản đồ số 05, diện tích 680 m2 thể hiện trong bản đồ số 05 đo đạc năm 1995 là vì: Uỷ ban nhân dân huyện căn cứ vào đơn xin cấp giấy CNQSD đất ngày 25/10/2005, được UBND xã Q xác nhận đúng nguồn gốc, phù hợp với quy hoạch, không tranh chấp, biên bản xác định ranh giới thửa đất được UBND xã Q chuyển đến thì thửa đất số 49, tờ bản đồ số 05 có tổng diện tích 1750m2 (BL 112). Tuy nhiên, biên bản xác định ranh giới thửa đất ông Phạm Văn H không ký, không thừa nhận chữ ký trong biên bản là chữ ký của ông, tại phiên toà sơ thẩm ông H đề nghị HĐXX cho giám định chữ ký của ông (BL181), HĐXX đã tạm ngừng phiên toà nhưng không ra quyết định trưng cầu giám định là vi phạm điều 102 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[5]. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/7/2016, chỉ đo đạc diện tích đất thực tế đang sử dụng, không đo diện tích đất được cấp theo giấy CNQSD đất và bản đồ giải thửa, không đo đạc diện tích đất tranh chấp, xác định tài sản trên đất và ai đang trực tiếp sử dụng và không có sơ đồ đất kèm theo (BL 42,43). Đến ngày 29/10/2016, ông Phạm Văn H mới ký hợp đồng với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ để đo đạc thửa đất của ông (BL 72-74). Ngày 27/12/2016, ông Điểu S ký hợp đồng số 106/HĐĐĐ để đo diện tích đất của gia đình ông, nhưng kết quả đo đạc thửa đất của ông H và ông S không phù hợp với kết quả đo đạc thể hiện trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ. Mặt khác, kết quả đo đạc là do ông H và ông Điểu S tự ký hợp đồng đo đạc hai thửa đất riêng biệt và chỉ đo đạc diện tích đất hiện trạng đang sử dụng. Căn cứ vào kết qủa đo đạc nêu trên thì cơ quan chuyên môn không thể thực hiện việc lồng ghép giữa diện tích đất thực tế với diện tích đất được cấp theo giấy CNQSD đất và bản đồ giải thửa để xác định toạ độ, vị trí đất của các hộ được.
[6]. Tại biên bản thoả thuận (BL44) ông Điểu S thừa nhận phần đất phía trước có căn nhà đang cho thuê, có chiều rộng giáp đường Quốc lộ 14 là 17,7m, so với giấy CNQSD đất được cấp dư 20 cm. Ông S cam kết khi tháo dỡ nhà cũ làm nhà mới thì chỉ làm đúng diện tích đất được cấp, phần còn lại sẽ trả lại cho gia đình ông H sử dụng, biên bản không có chữ ký của ông H. Như vậy, ông S thừa nhận diện tích đất hiện nay gia đình ông đang sử dụng có 20 cm đất chiều rộng mặt đường Quốc lộ 14 là đất của ông H, nhưng cấp sơ thẩm vẫn không xem xét. Quá trình giải quyết, ngày 07/12/2016, ông H làm đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Điểu S trả lại diện tích đất lấn chiếm là khoảng 100,1m2 (BL 04), nhưng Toà án cấp sơ thẩm lại tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H đòi ông Điểu S trả lại diện tích đất lấn chiếm là 66,64m2 là không đúng với đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông H.
[7]. Tại Quyết định số 52/2016/QĐ-CA ngày 16/6/2016 về việc phân hồ sơ đã phân công thư ký Phan Thị H, thư ký dự khuyết Nông Văn N (BL 19a), biên bản phiên toà lại thể hiện thư ký phiên toà bà Phan Thị H và ông Nông Văn N và cả hai thư ký đều ký vào biên bản phiên toà (BL 183) là không đúng với quyết định phân công thư ký, biên bản phiên toà có sự mâu thuẩn với bản án vì bản án chỉ thể hiện có một thư ký là Phan Thị H (BL 171).
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viê ̣n kiếm sát nhân dân tinh Đẳ
́k Nông và quan điểm đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên toà là có căn cứ. Quan điểm đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tại phiên toà là chưa phù hợp.
Do Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm và thiếu sót trong viê ̣c xác minh , thu thâ ̣p, đánh giá chứ ng cứ , tại phiên toà phúc thẩm không thể khắc phục được . Do đó, cần chấp nhâ ̣n yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn H và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Đ. Hủy bản án sơ thẩm số 06/2017/DS-ST ngày 14/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ. Chuyển hồ sơ vu ̣ án cho Tòa án nhân dân huyê ̣n Đ giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, nên ông Phạm Văn H không phải chi ̣u án phi dân sự phúc thẩm, hoàn trả choông H 300.000 đồng
́ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm ông H đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn H, chấp nhâ ̣n một phần Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Đ.
2. Hủy bản án sơ thẩm số 06/2017/DS-ST ngày 14/4/2017 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Đ. Chuyển hồ sơ vu ̣ án cho Tòa án nhân dân huyê ̣n Đ giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho ông Phạm Văn H 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm ông H đa nô ̣̃ p, theo biên lai số 0004667 ngày 04/5/2017, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Đ; - TAND huyện Đ; - C.C THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu, hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Chiến Nguyễn Tài Sử | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đa kỹ ́ ) Phạm Thị Thông Phạm Thị Thông |