vanban.org

Bản án 409/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị L được ly hôn với ông Bùi Ngọc Phi H. Về con chung: Giao con chung tên Bùi Hoàng Ngọc L, sinh ngày 26/12/2008 cho bà Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên tự thỏa thuận với nhau về cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 409/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 7 - 2022
V/v tranh chấp về ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lưu Đức Quang

2/ Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 07 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 166/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2022/QĐHPT-ST ngày 05 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1973 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: 84/15 đường HH, Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tạm trú: 132/21/12A TTH21, phường TTH, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Bùi Ngọc Phi H, sinh năm 1972 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 84/15 đường HH, Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/3/2022 và lời khai tại Tòa, nguyên đơn bà Hoàng Thị L trình bày:

Bà và ông Bùi Ngọc Phi H tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/3/2009.

Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau 02 năm vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn về lối sống, quan điểm sống. Vì con mà cùng cố gắng chịu đựng nhưng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, để ổn định cuộc sống bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Hoàng Ngọc L, sinh ngày 26/12/2008. Bà L yêu cầu nuôi dưỡng con chung và tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L khai không có.

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập ông H đến Toà để tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên tòa nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp các tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của bà L mặc dù ông biết việc bà L yêu cầu ly hôn và trực tiếp ký nhận các văn bản của Tòa án tống đạt.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn xin vắng mặt tham gia tố tụng.

Bị đơn vắng mặt không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Toà án căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Do bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị Toà án căn cứ vào lời khai và các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Toà án nhận định:

Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền: Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị L yêu cầu ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn ông Bùi Ngọc Phi H cư trú tại Quận 10 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét, nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Bùi Ngọc Phi H vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 33, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/3/2009, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Hoàng Thị L và ông Bùi Ngọc Phi H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Xét, lời trình bày của bà L, quá trình chung sống vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn về quan điểm sống, lối sống khác nhau. Cả hai đã cho nhau cơ hội hàn gắn nhưng giữa hai người không còn tình cảm, không còn yêu thương nhau nữa. Bà L yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà để bà được ổn định cuộc sống.

Xét, bị đơn ông Bùi Ngọc Phi H đã được Tòa án triệu tập để hòa giải nhằm gắn kết mối quan hệ vợ chồng nhưng ông không đến, việc ông không đến Tòa cho thấy ông không còn quan tâm và mong muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với bà L nữa.

Mục đích của việc xác lập hôn nhân là nhằm gắn bó quan hệ giữa người nam và người nữ trong quan hệ vợ chồng, để họ chung sống với nhau và xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Xét thấy quan hệ vợ chồng không còn, trách nhiệm giữa đôi bên với nhau không có nên tình trạng vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Nếu tiếp tục chung sống thì không những không đem lại niềm vui, hạnh phúc mà còn đem lại sự đau khổ cho đôi bên, tình trạng đó ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc và giáo dục con cái. Do vậy, từ những phân tích trên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Hoàng Ngọc L, sinh ngày 26/12/2008. Bà L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Yêu cầu này ông H cũng không phản đối, đồng thời trẻ L bị khuyết tật nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Do vậy, việc bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là có căn cứ được Tòa án chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L sẽ tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con với ông H, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L tự khai không có.

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị L được ly hôn với ông Bùi Ngọc Phi H.

- Về con chung: Giao con chung tên Bùi Hoàng Ngọc L, sinh ngày 26/12/2008 cho bà Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên tự thỏa thuận với nhau về cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luât, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L khai không có.

2. Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, bà L chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0018494 ngày 24/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ