vanban.org

Bản án 409/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH ngày 30.

Xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Ngô Thị Mỹ D đối với anh Trần Tuấn V. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Mỹ D được ly hôn với anh Trần Tuấn V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Ngô Thị Mỹ D - Anh Trần Tuấn V"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH ngày 30.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
THÀNH PHỐ HÀNỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 409/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 19.5.2021
V/v: Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Nga Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lương

Bà Nguyễn Quỳnh Thơ

-Thư ký phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Hạnh-Thư ký Toà án nhân dân Quận Đống Đa

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Đống Đa tham gia phiên tòa:

Ông Trần Hoàng Chương - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận Đống Đa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 01/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 118/2021/QĐXX-ST ngày 01 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2021/QĐHPT ngày 23 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Mỹ D, sinh năm 1991 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A Ngõ B, Phường Khâm Thiên, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Cư trú tại: Số A, Ngách B, Ngõ C, Ngõ D, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

* Bị đơn: Anh Trần Tuấn V, sinh năm 1991 (Vắng mặt tại phiên tòa)

Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số A Ngõ B, Phường Khâm Thiên, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 08.12.2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Ngô Thị Mỹ D trình bày:

Tôi và anh Trần Tuấn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường Khâm Thiên, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội ngày 18.3.2015.

Sau khi kết hôn vợ chồng tôi sống tại số A Ngõ B, Phường Khâm Thiên, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội là nhà của bố mẹ anh V. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, ngoài ra anh V là người ham chơi nên ít có thời gian cho gia đình. Tôi và gia đình hai bên đã khuyên bảo anh V nhiều lần nhưng anh V không thay đổi. Tháng 7.2020 do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên tôi đã đưa hai con về nhà ngoại ở tại số A Ngách B Ngõ C Ngõ D, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Vợ chồng tôi ly thân từ đó cho đến nay, tôi đã từng trao đổi với anh V về việc ly hôn tại Tòa án, anh V nói với tôi nếu muốn ly hôn thì tự giải quyết, anh V sẽ không ra Tòa án.

Nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không có khả năng hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh V.

- Về con chung: Chúng tôi có hai con chung là Trần Gia N, sinh ngày 12.5.2015 và Trần Gia A, sinh ngày 21.4.2017. Sau ly hôn, tôi có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi hai con. Từ trước đến nay hai con đều do một mình tôi chăm sóc, anh V không quan tâm, chăm sóc gì cho các con, hơn nữa hai cháu là con gái, tôi không muốn tách hai cháu nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được nuôi cả hai con.

- Về tài sản chung và nhà ở chung: Chúng tôi không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chúng tôi không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí ly hôn: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

* Nguyên đơn chị Ngô Thị Mỹ D vẫn giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày, và có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn anh Trần Tuấn V vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Đống Đa có quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Chị Ngô Thị Mỹ D và anh Trần Tuấn V kết hôn hợp pháp, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2017 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân và có đã có thời gian để cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị Ngô Thị Mỹ D được ly hôn anh Trần Tuấn V. Về con chung: Chị Ngô Thị Mỹ D và anh Trần Tuấn V có hai con chung là cháu Trần Gia N, sinh ngày 12.5.2015 và cháu Trần Gia A, sinh ngày 21.4.2017. Sau khi ly hôn giao cho chị Ngô Thị Mỹ D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Gia N và cháu Trần Gia A, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị Mỹ D không yêu cầu anh Tuấn V cấp dưỡng nuôi con, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Tuấn V. Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Chị Ngô Thị Mỹ D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại thời điểm chị Ngô Thị Mỹ D khởi kiện tranh chấp ly hôn với anh Trần Tuấn V, anh Trần Tuấn V có hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại số A Ngõ B, Phường Khâm Thiên, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Do đó, Tòa án nhân dân Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền về lãnh thổ và loại việc quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Trần Tuấn V theo quy định của pháp luật nhưng anh V vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành giải quyết và xét xử vắng mặt anh Trần Tuấn V.

Về nội dung:

Hôn nhân giữa chị Ngô Thị Mỹ D và anh Trần Tuấn V là hôn nhân hợp pháp. Theo như chị Mỹ D trình bày mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng trong quan điểm sống, anh V không có trách nhiệm với gia đình nên thường xuyên xảy ra tranh cãi khiến tình cảm vợ chồng không còn. Chị Mỹ D và hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Tuấn V không thay đổi. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ tháng 7.2020 đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh Trần Tuấn V đến Tòa án lấy lời khai và tiến hành hòa giải để anh Tuấn V thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình cũng như để anh Tuấn V, chị Mỹ D có cơ hội trao đổi bàn bạc hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng anh Tuấn V vắng mặt không có lý do. Xét thấy, anh Tuấn V không đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn giữa anh Tuấn V và chị Mỹ D thể hiện anh Tuấn V cũng không tha thiết hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Qua xác minh tại địa phương nơi anh chị chung sống, tại biên bản xác minh ngày 17.3.2021 đại diện tổ dân phố cung cấp: Chị Ngô Thị Mỹ D và anh Trần Tuấn V sống cùng bố mẹ anh Tuấn V tại địa chỉ số A Ngõ B, Phường Khâm Thiên, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Trong thời gian anh chị chung sống tại đây, chính quyền địa phưng không thấy anh chị xảy ra xô xát hay to tiếng. Tháng 7.2020 chị Mỹ D cùng hai con chuyển ra ngoài ở. Nay chị D xin ly hôn với anh V thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Anh Tuấn V cho biết là anh đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh không ra tòa.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Mỹ D và anh Tuấn V đã căng thẳng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quyết định cho chị Ngô Thị Mỹ D được ly hôn với anh Trần Tuấn V.

- Về con chung: Xác nhận chị Ngô Thị Mỹ D và anh Trần Tuấn V có hai con chung là cháu Trần Gia N, sinh ngày 12.5.2015 và cháu Trần Gia A, sinh ngày 21.4.2017. Xét thấy, con chung của anh chị đều còn nhỏ, là bé gái nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ, trong thời gian chị Mỹ D và anh Trần Tuấn V ly thân, hai cháu sống cùng mẹ và được chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ. Nay để đảm bảo sự phát triển bình thường, tránh xáo trộn cuộc sống của các cháu Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cho chị Ngô Thị Mỹ D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. Chị Mỹ D không yêu cầu anh Tuấn V cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Tuấn V. Anh Trần Tuấn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản, vay nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Chị Ngô Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm

Chị Ngô Thị Mỹ D và anh Trần Tuấn V có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Ngô Thị Mỹ D đối với anh Trần Tuấn V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Mỹ D được ly hôn với anh Trần Tuấn V.

2. Về con chung: Xác nhận chị Ngô Thị Mỹ D và anh Trần Tuấn V có hai con chung là cháu Trần Gia N, sinh ngày 12.5.2015 và cháu Trần Gia A, sinh ngày 21.4.2017. Sau ly hôn, giao cháu Trần Gia N và cháu Trần Gia A cho chị Ngô Thị Mỹ D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Trần Tuấn V cho đến khi có Quyết định khác của Tòa án.

Anh Trần Tuấn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản, vay nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Ngô Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số 0015415 ngày 04.01.2021 tại Chi cục thi hành án dân sự Quận Đống Đa.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Ngô Thị Mỹ D, anh Trần Tuấn V. Chị Ngô Thị Mỹ D và anh Trần Tuấn V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ