vanban.org

Bản án 408/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Dương Thị Mỹ T về việc xin ly hôn anh Trịnh Văn D.

Về con chung là Trịnh Tú Trân, sinh ngày 06/02/2005 và Trịnh Chí Thật, sinh ngày 24/02/2010. Tiếp tục giao cháu Thật cho anh Trịnh Văn D chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra trách nhiệm chị Dương Thị Mỹ T cấp dưỡng nuôi con, riêng cháu Trân đã thành niên nên không đặt ra xem xét. Chị T có quyền đến … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị Mỹ Thanh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Dương Thị Mỹ T về việc xin ly hôn anh Trịnh Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 408/2026/HNGĐ-ST
Ngày 31 – 7 – 2026
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Xuân Minh.

2. Ông Đào Việt Khái.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Vũ Phong, là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

Ngày 31 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 603/2026/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2026 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 674/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị Mỹ T, sinh ngày 01/01/1983; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 10/12/2022, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Địa chỉ: Ấp Tân P, xã Phú T, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Trịnh Văn D, sinh ngày 01/01/1979; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 10/12/2022, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Địa chỉ: Ấp Tân P, xã Phú T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về hôn nhân, chị Dương Thị Mỹ T và anh Trịnh Văn D chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú T, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau nay thuộc Ủy ban nhân dân xã Phú T, tỉnh Cà Mau vào năm 2010. Quá trình chung sống, chị T cho rằng thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng sau đó, xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh D.

Về con chung, chị T và anh D chung sống có 02 người con chung là Trịnh Tú Trân, sinh ngày 06/02/2005 và Trịnh Chí Thật, sinh ngày 24/02/2010. Hiện cháu Trân đã trưởng thành nên khi ly hôn, chị T không đặt ra yêu cầu gì về con. Đối với cháu Thật, chị T giao cho anh D nuôi nhưng không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung, chị T khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đồng thời, do điều kiện công việc cũng như điều kiện đi lại gặp rất nhiều khó khăn nên chị Dương Thị Mỹ T (nguyên đơn) đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt chị trong suốt quá trình giải quyết vụ án, riêng anh Trịnh Văn D (bị đơn) vắng mặt không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt, không có lý do. Riêng nguyên đơn đã có lời khai và có yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt của nguyên đơn và tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân xã Phú T, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau nay thuộc Ủy ban nhân dân xã Phú T, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số: 176, ngày 22/9/2010 nên hôn nhân của các đương sự được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Tuy trong suốt quá trình tố tụng, bị đơn biết được việc nguyên đơn khởi kiện nhưng bị đơn không đến Tòa, không gửi văn bản ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là tự từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình đều đó cho thấy bị đơn không mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với nguyên đơn nên lời trình bày của nguyên đơn về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn là có căn cứ. Do đó, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn được chấp nhận.

Về con chung là Trịnh Tú Trân, sinh ngày 06/02/2005 và Trịnh Chí Thật, sinh ngày 24/02/2010. Hiện cháu Trân đã trưởng thành, nguyên đơn không đặt ra yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Riêng cháu Thật, nguyên đơn tự nguyện giao cho bị đơn nuôi và không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, tuy bị đơn vắng mặt và không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên nhưng do nguyên đơn không đủ điều kiện để nuôi con nên tự nguyện giao cho bị đơn nuôi. Hơn nữa, cháu Thật hiện đang chung sống với bị đơn đã ổn định vì vậy, để hạn chế đến mức thấp nhất việc ảnh hưởng tâm lý, cuộc sống của con nên tiếp tục giao cháu Thật cho bị đơn chăm sóc, nuôi dưỡng là hợp lý. Riêng việc cấp dưỡng nuôi con, do bị đơn không có ý kiến nên không đề cập xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung, nguyên đơn khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu của chị Dương Thị Mỹ T về việc xin ly hôn anh Trịnh Văn D.

- Về con chung là Trịnh Tú Trân, sinh ngày 06/02/2005 và Trịnh Chí Thật, sinh ngày 24/02/2010. Tiếp tục giao cháu Thật cho anh Trịnh Văn D chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra trách nhiệm chị Dương Thị Mỹ T cấp dưỡng nuôi con, riêng cháu Trân đã thành niên nên không đặt ra xem xét.

Chị T có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung, chị Dương Thị Mỹ T khai không có, nên không đặt ra xem xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Dương Thị Mỹ T phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 05/6/2026, chị T đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0007393 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 8, 9 và 11 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 33 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ