vanban.org

Bản án 408/2024/DSST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị M.

Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Phương Q có trách nhiệm trả cho bà Ngô Thị M số tiền nợ hụi là 131.730.000 đồng (một trăm ba mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Hợp đồng góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 408/2024/DSST
Ngày: 19/9/2024
V/v tranh chấp: “ Hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M Lil;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kiều Phương.

2. Bà Nguyễn Thị Cẩm Giang.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị M Xuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Trong ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án thụ lý số: 103/TLST-DS ngày 19/4/2024 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2024/QĐXXST-DS ngày 21/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 239/2024/QĐST – DS ngày 05/9/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngô Thị M, sinh năm 1958 ( xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số 620 ấp PT, xã TMC, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1967;

Địa chỉ: ấp LPC, xã LHL, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện ủy quyền: Nguyễn Thanh S, sinh năm 1976; (vắng mặt)

Địa chỉ: NTT, phường 10, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang.

- Đoàn Phương Q, sinh năm 1967; (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp LPC, xã LHL, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngô Thị L, sinh năm 1980; (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp TC, xã TH, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Ngô Thị M trình bày:

Do quen biết nên bà có tham gia góp hụi do vợ chồng ông Đoàn Phương Q và bà Nguyễn Thị T làm chủ hụi. Cụ thể như sau:

- Dây 1: Hụi 5.000.000 đồng/tháng, khui ngày 05/02/2023 âm lịch, gồm 22 phần, bà tham gia chơi 01 phần, đến ngày 14/01/2024 âm lịch bể hụi, bà đóng được 12 kỳ số tiền 44.850.000 đồng.

- Dây 2: Hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 15/11/2022 âm lịch, gồm 24 phần, bà tham gia chơi 01 phần, đến ngày 14/01/2024 âm lịch bể hụi, bà đóng được 15 kỳ số tiền 22.300.000 đồng.

- Dây 3: Hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/01/2023 âm lịch, gồm 26 phần, bà tham gia chơi 02 phần, đến ngày 14/01/2024 âm lịch bể hụi, bà đóng được 13 kỳ số tiền 38.700.000 đồng.

- Dây 4: Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/4/2023 âm lịch, gồm 24 phần, bà tham gia chơi 02 phần, đến ngày 14/01/2024 âm lịch bể hụi, bà đóng được 09 kỳ số tiền 12.940.000 đồng.

- Ngoài ra, dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 25/4/2023 âm lịch, gồm 24 phần, dây này do em bà là Ngô Thị L tham gia hụi với bà T, ông Q. Bà mua 02 phần hụi này, mỗi phần 17.200.000 đồng, thành tiền là 34.400.000 đồng. Đến ngày 14/01/2024 âm lịch bể hụi, bà đóng được 09 kỳ số tiền 12.940.000 đồng.

Đến ngày 24/02/2024, ông Q bà T thông báo ngưng hụi mà không giao hụi cho bà, tổng cộng số tiền hụi bà đóng cho ông Q, bà T 131.730.000 đồng. Nhưng đến nay vợ chồng ông Q bà T không trả bà khoản tiền nào. Nay bà yêu cầu ông Đoàn Phương Q và bà Nguyễn Thị T cùng liên đới trả số tiền hụi còn nợ là 131.730.000 đồng, trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

* Theo bản tự khai ngày 10/6/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Năm 1988 bà có kết hôn với ông Đoàn Phương Q. Vào năm 2008, bà làm chủ hụi góp vốn để có nguồn thu nhập từ chủ hụi tiền đầu thảo, bà kêu gọi tham gia hụi và bà là đầu thảo hụi, mỗi tháng mở hụi từ 1.000.000 đồng, 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Bà làm chủ hụi gom hụi, giao hụi đều do các hụi viên thống nhất đồng ý. Công việc làm hụi ổn định đến năm 2021 do dịch bệnh nên hụi viên không có khả năng đóng hụi cho bà, bà phải vay mượn tiền để đóng cho các hụi viên. Đến tháng 02/2024 thì bà không có khả năng đóng hụi thay cho các hụi viên đã hốt. Nay bà còn thiếu bà Ngô Thị M số tiền hụi là 131.730.000 đồng và xin trả mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi hết nợ.

* Tại bản tự khai bị đơn ông Đoàn Phương Q trình bày:

Vào năm 1988, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị T. Ông bà có hai con chung là Đoàn Phương Tiến và Đoàn Phương Thịnh. Ông bà sống chung đến năm 2000 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên sống ly thân, việc vô hụi góp vốn ông hoàn toàn không có tham gia.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị L trình bày: Bà có tham gia giao dịch hụi với bà T, ông Q và có bán hụi cho bà Ngô Thị M như bà M trình bày, do bà bán hụi nên bà M kiện bà T, ông Q bà không có ý kiến gì.

* Tại phiên tòa: Bà Ngô Thị M có đơn xin vắng mặt, giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như tại các văn bản khởi kiện, biên bản hoà giải. Đại diện ủy quyền của bị đơn bà T vắng mặt, bị đơn ông Q có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ngô Thị L có đơn xin vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Ngô Thị M khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Phương Q trả số tiền nợ hụi nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp“Hợp đồng góp hụi” được quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà T và ông Q cư trú tại ấp LPC, xã LHL, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Bà M, ông Q, bà L có đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện ủy quyền của bị đơn bà T là anh S, đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy bà M có tham gia hụi do bà T làm chủ hụi, hụi có hoa hồng. Tại bản tự khai, bà T thừa nhận là bà có làm chủ hụi và bà M có tham gia góp hụi với bà. Do đó có đủ cơ sở xác định giữa bà M và bà T có xác lập giao dịch góp hụi với nhau theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bà M khai bà T và ông Q còn nợ bà M số tiền hụi 131.730.000 đồng, phía bà T thừa nhận và thống nhất số tiền hụi còn nợ bà M. Quá trình tham gia hụi, bà M là hụi viên, đóng hụi đầy đủ cho bà T. Hiện nay, các dây hụi bà M tham gia 02 bên thừa nhận đều bị bể hụi, phía bà T không hoàn trả lại số tiền đóng hụi cho bà M làm một lần mà có yêu cầu được trả dần mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi hết số tiền nợ là vi phạm trách nhiệm của chủ họ theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ. Do đó, bà M khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền 131.730.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm liên đới: Ông Q trình bày ông và bà T là vợ chồng nhưng đã ly thân từ năm 2000 đến nay, ông hoàn toàn không có tham gia việc tổ chức gom hụi của bà T nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà M. Tuy nhiên, theo biên bản xác minh tại chính quyền địa phương nơi bà T, ông Q cư trú thì ông Q, bà T hiện vẫn chung sống vợ chồng cùng nhà tại địa chỉ ấp LPC, xã LHL, huyện Chợ Gạo. Bà T làm chủ hụi rất lâu, chủ yếu thực hiện việc mở hụi và khui hụi, ông Q chồng bà T có nhiệm vụ giúp bà T gom hụi, nhận tiền hụi, giao hụi và lập danh sách hụi viên. Ngoài việc giúp bà T làm hụi thì ông Q cũng có thu nhập thêm từ nguồn trồng dừa. Do đó lời trình bày của ông Q cho rằng ông không liên quan gì đến việc tranh chấp hụi giữa các hụi viên với bà T là không có cơ sở mà xác định đây là khoản nợ chung của vợ chồng nên ông Q có trách nhiệm liên đới cùng bà T trả tiền cho bà M theo quy định tại Điều 27, Điều 30 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tiền lãi: Bà M không có yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về yêu cầu trả nợ dần số tiền hụi: Bà T trình bày do hoàn cảnh khó khăn nên bà T xin trả dần mỗi tháng 1.500.000 đồng. Xét thấy bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn và việc yêu cầu trả dần của bị đơn cũng không được phía nguyên đơn đồng ý. Do đó, buộc bà T và ông Q có nghĩa vụ trả cho bà M số tiền 131.730.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 35, 39, 92, 147, 227, 228, 235, 238, 244 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 357, 468, 471 Bộ luật dân sự;

Căn cứ các điều 27, 30 và 37 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị M.

Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Phương Q có trách nhiệm trả cho bà Ngô Thị M số tiền nợ hụi là 131.730.000 đồng (một trăm ba mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Phương Q phải chịu 6.586.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

Cỡ chữ