vanban.org

Bản án 408/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Ngọc L. Chị Lê Thị Ngọc L được ly hôn với anh Nguyễn Văn D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 408/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15/12/2022.
V/v tranh chấp: xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Văn Siêng

2. Ông Huỳnh Hồng Lợi

- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Ngọc Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tham gia phiên Tòa: ông Nguyễn Văn Quí - Kiểm sát viên

Trong ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 397/2022/TLST-HNGĐ ngày 04/11/2022 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2022/QĐST- HNGĐ ngày 21/11/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05/12/2022 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị LÊ THỊ NGỌC L – sinh năm 1977;

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện G, Tiền Giang.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Trần Thị Kim P- Văn phòng luật sư Vinh Phú, Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang

2. Bị đơn: Anh NGUYỄN VĂN D – sinh năm 1969;

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện G, Tiền Giang.

(Chị L và Luật sư P xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn của nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc L trình bày: chị và anh Nguyễn Văn D cưới nhau vào năm 1994, có sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ năm 2004. Sau khi cưới chị và anh D sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do anh D thường xuyên ghen tuông vô cớ dẫn đến thường bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Đời sống chung kéo dài đến ngày 29/8/2022 âm lịch thì sống ly thân cho đến nay. Nay chị L yêu cầu xin ly hôn với anh D.

- Về con chung: có 02 con tên Nguyễn Chí T – sinh ngày 21/8/1995 và Nguyễn Thanh N – sinh ngày 17/11/2003, hiện hai con T và N đã thành niên nên chị không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: không có.

* Tại văn bản lời khai của bị đơn anh Nguyễn Văn D trình bày: anh và chị Lê Thị Ngọc L chung sống từ năm 1994, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ năm 2004. Sau khi cưới anh và chị L sống hạnh phúc đến tháng 5/2022, anh thấy chị L có gọi điện thoại cho người đàn ông khác nên anh hỏi là ai thì chị L nói quanh co. Anh cũng khuyên chị L để hai vợ chồng hàn gắn tình cảm, nhưng đến tháng 8/2022 âm lịch thì chị L tự ý bỏ nhà lên Mỹ Tho chung sống với người đàn ông khác luôn cho đến nay. Ngoài ra hai vợ chồng không có mâu thuẫn nào khác. Nay chị L yêu cầu ly hôn anh không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: có 02 con tên Nguyễn Chí T – sinh ngày 21/8/1995 và Nguyễn Thanh N – sinh ngày 17/11/2003, hiện hai con T và N đã thành niên nên anh không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: không có.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc L xin vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là luật sư Trần Thị Kim P xin vắng mặt.

Bị đơn anh Nguyễn Văn D vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Ngọc L; về con chung: Nguyễn Chí T – sinh ngày 21/8/1995 và Nguyễn Thanh N – sinh ngày 17/11/2003 đã thành niên nên không xem xét; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định quan hệ đang tranh chấp là “xin ly hôn”.

Xét nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc L và luật sư Trần Thị Kim P có đơn xin xét xử vắng mặt có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị L và luật sư Phượng.

Xét bị đơn anh Nguyễn Văn D đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh D.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Ngọc L là có cơ sở. Vì chị Lê Thị Ngọc L cưới nhau vào năm 1994, được sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ số 01 ngày 14/01/2004. Sau khi cưới chị L và anh D sống hạnh phúc đến tháng 5/2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, và chị L, anh D sống ly thân từ tháng 5/2022 cho đến nay, mà giữa chị L, anh D vẫn không hàn gắn được tình cảm. Cho thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh D đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: có hai con chung tên Nguyễn Chí T – sinh ngày 21/8/1995 và Nguyễn Thanh N – sinh ngày 17/11/2003. Hiện Thanh và Nhân đã thành niên nên chị L, anh D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung: chị L và anh D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, nếu sau này chị L và anh D có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ án khác.

Về nợ chung: không có.

Về án phí: do chị L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 175, 177, 227, 228, 233, 235 Bộ luật tố tụng dân sự

- Áp dụng vào các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Ngọc L.

Chị Lê Thị Ngọc L được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

Về án phí: chị Lê Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp theo biên lai thu số 0026609 ngày 01/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, do vậy chị L đã nộp xong án phí.

Báo các đương sự vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án văn hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ