- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 408/2018/DS-ST Ngày: 18-9-2018 V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thành Phong – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 281/2018/TLST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 363/2018/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T, địa chỉ: Đường A, Phường B, quận C, Thành phố Hà Nội
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh V, trú tại: Đường D, Phường E, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số: 001/2018/UQ-GĐK-TDTD ngày 11 tháng 6 năm 2018). (Có mặt).
2.Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Như T1, sinh năm: 1960, địa chỉ cư trú: Đường G, Phường H, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 11 tháng 6 năm 2018 của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T (Sau đây viết tắt là ngân hàng) và quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Thanh V là đại diện của nguyên đơn trình bày giữa ngân hàng và bà Nguyễn Thị Như T1 có ký kết hợp đồng tín dụng số: 20141022-100173-0049 ngày 22/10/2014, theo hợp đồng thì bà T1 vay ngân hàng số tiền 68.917.793 đồng với lãi suất thỏa thuận 2,92%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà T1 có trách nhiệm thanh toán số tiền gồm cả gốc và lãi là 108.086.000 đồng, trả chậm liên tiếp trong vòng 32 tháng, 31 tháng đầu mỗi tháng trả 3.342.000 đồng, tháng cuối cùng trả 4.484.000 đồng, thanh toán vào ngày 01 hàng tháng, bắt đầu trả từ ngày 01/02/2014, cụ thể là [3.342.000 đồng x 31 kỳ + 4.484.000 đồng (Kỳ 32) = 108.086.000 đồng]. Thực hiện hợp đồng, bà T1 đã nhận đủ số tiền và thanh toán cho ngân hàng tổng cộng số tiền 57.800.000 đồng. Kể từ ngày 24/4/2018, bà T1 không thanh toán bất cứ khoản nào dù ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T1 trả một lần số tiền nợ gốc 34.544.348 đồng và nợ tiền lãi 15.741.652 đồng, tổng cộng: 50.286.000 đồng. Sau khi khởi kiện bà T1 có thanh toán thêm cho ngân hàng 9.000.000 đồng nên còn nợ ngân hàng số tiền nợ gốc 25.544.348 đồng và nợ tiền lãi 15.741.652 đồng tổng cộng: 41.286.000 đồng.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa, bị đơn bà T1 trình bày: Bà có ký kết với ngân hàng hợp đồng tín dụng số: 20141022-100173-0049 ngày 22/10/2014 để vay số tiền 68.917.793 đồng và theo thỏa thuận hợp đồng thì bà phải trả cả nợ gốc và nợ lãi tổng cộng 108.086.000 đồng chia làm 32 kỳ đúng như đại diện nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên, bà chỉ trả được cho ngân hàng số tiền 57.800.000 đồng và sau khi ngân hàng khởi kiện bà có trả thêm cho ngân hàng 9.000.000 đồng nên bà còn nợ ngân hàng tổng cộng: 41.286.000 đồng. Vì hoàn cảnh khó khăn nên bà xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu bà T1 trả tiền nợ gốc và tiền lãi tổng cộng: 41.286.000 đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà T1 có trách nhiệm tiếp tục trả lãi cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số: 20141022-100173-0049 ngày 22/10/2014 tương ứng với số tiền chưa thanh toán cho đến khi bà T1 trả nợ xong.
Bà T1 xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ ngân hàng là 41.286.000 đồng.
Ngoài ra, đại diện nguyên đơn và bị đơn xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Hội đồng xét xử, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, Tòa án nhận định:
. Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Đây là vụ án tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại số: Đường G, Phường H, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Xét yêu cầu của đương sự: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ngân hàng thấy rằng, hợp đồng tín dụng số: 20141022-100173-0049 ngày 22/10/2014 mà ngân hàng ký kết với bà T1 là hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005 về nội dung lẫn hình thức của hợp đồng.
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số: 20141022-100173-0049 ngày 22/10/2014, bảng sao kê kế hoạch trả nợ tổng cộng gồm 32 kỳ, lịch sử thanh toán nợ và lời thừa nhận của bà T1 có vay tiền và còn nợ ngân hàng số tiền 41.286.000 đồng, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên việc ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T1 thanh toán số tiền còn nợ là có cơ sở để xem xét. Sau khi vay tiền của ngân hàng thì bà T1 phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi hàng tháng nhưng bà T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết là vi phạm Điều 4 của hợp đồng đã ký kết. Do đó, yêu cầu của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa buộc bà T1 phải hoàn trả cho ngân hàng số tiền nợ gốc 25.544.348 đồng và nợ tiền lãi 15.741.652 đồng, tổng cộng: 41.286.000 đồng cho ngân hàng là cơ sở để chấp nhận.
Đối với khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ngân hàng yêu cầu bà T1 có trách nhiệm tiếp tục trả lãi cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số: 20141022-100173-0049 ngày 22/10/2014 là có cơ sở theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nghĩ buộc bà T1 trả cho ngân hàng số tiền 41.286.000 đồng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 20141022-100173-0049 ngày 22/10/2014, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là thỏa đáng và phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
. Đối với lời trình bày của bà T1 là do hoàn cảnh khó khăn nên bà xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi trả hết số nợ 41.286.000 đồng, Hội đồng xét xử không chấp nhận vì hợp đồng tín dụng được giao kết giữa bà và ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định pháp luật. Tại phiên Tòa bị đơn đã thừa nhận vi phạm hợp đồng và còn nợ ngân hàng số tiền như đã nêu trên, ngân hàng không đồng ý cho bị đơn trả dần nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét yêu cầu của bị đơn.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T1 phải chịu là 41.286.000 x 5% = 2.064.300 đồng.
Hoàn lại cho ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số tiền tạm ứng án phí là 1.257.150 đồng theo biên lai thu số: AA/2017/0029538 ngày 28/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 471, khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ vào Điều 351, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T.
1. Buộc bà Nguyễn Thị Như T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số tiền nợ gốc 25.544.348 đồng và nợ tiền lãi 15.741.652 đồng, tổng cộng: 41.286.000 (Bốn mươi mốt triệu, hai trăm tám mươi sáu ngàn) đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Như T1 phải chịu là 2.064.300 (Hai triệu, không trăm sáu mươi bốn ngàn, ba trăm) đồng.
Hoàn lại cho ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số tiền tạm ứng án phí là 1.257.150 (Một triệu, hai trăm năm mươi bảy ngàn, một trăm năm mươi) đồng theo biên lai thu số: AA/2017/0029538 ngày 28/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -Đương sự; -Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; -Chi cục thi hành án dân sự cùng cấp; -Lưu hồ sơ vụ án. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | Trần Mạnh Cường |