vanban.org

Bản án 4074/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P.

1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị P và ông Bùi Tấn S. 2 Về con chung: Bà Nguyễn Thị P và ông Bùi Tấn S có 02 con chung tên Bùi Tấn T, sinh ngày 09/01/2004 và Bùi Tấn P, sinh ngày 15/9/2012. Con chung tên Bùi Tấn T đã thành niên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Ngoc P - Bui Tan S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 4074/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2023
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị P Châu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lượng

2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đạo – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1647/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6015/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1976

Thường trú: xã D, thị xã D, tỉnh Quảng Nam.

Tạm trú: Đường M, Khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Bùi Tấn S, sinh năm 1975

Thường trú: xã D, thị xã D, tỉnh Quảng Nam.

Tạm trú: Đường M, Khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông Bùi Tấn S tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 20/6/2003. Thời gian đầu, cuộc sống chung hạnh phúc bình thường. Tuy nhiên, khoảng 01 năm gần đây, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, không hòa giải được, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn hòa hợp. Vợ chồng đã nhiều lần hòa giải mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Hiện nay, bà P xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Do đó, bà P yêu cầu được ly hôn với ông S.

Về con chung: Bà P và ông S có 02 con chung tên Bùi Tấn T, sinh ngày 09/01/2004 và Bùi Tấn P, sinh ngày 15/9/2012. Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Tấn P, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung tên Bùi Tấn P. Riêng con chung tên Bùi Tấn T đã thành niên.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

2. Bị đơn ông Bùi Tấn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không rõ lý do.

3. Tại phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị P có đơn xin vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án và xác định yêu cầu khởi kiện như sau: Về quan hệ hôn nhân: Bà P yêu cầu được ly hôn với ông S. Về con chung: Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Tấn P, sinh ngày 15/9/2012, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung tên Bùi Tấn P. Riêng con chung tên Bùi Tấn T, sinh ngày 09/01/2004, đã thành niên. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Bùi Tấn S đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.

Ngày 07/9/2023, ông Bùi Tấn S nộp đơn phản tố và Văn bản trình bày ý kiến cùng đề ngày 07/9/2023 xác định yêu cầu được ly hôn với bà P vì bà P có quan hệ ngoài luồng với người đàn ông khác. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Bùi Tấn T, sinh ngày 09/01/2004 và Bùi Tấn P, sinh ngày 15/9/2012. Ông S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Tấn P, không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung tên Bùi Tấn P. Riêng con chung tên Bùi Tấn T đã thành niên. Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung là nhà đất tại số 6/1/14/27, Đường M, Khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông S yêu cầu chia ½ tài sản chung vợ chồng, nhận giá trị bằng tiền. Về nợ chung: Không có.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

4.1 Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đồng thời, quyền và nghĩa vụ của đương sự được tôn trọng và bảo đảm đúng quy định của pháp luật.

4.2 Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P. Về tài sản chung: Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung trong vụ án khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời khai của đương sự, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị P yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Tấn S. Theo Kết quả xác minh của Công an phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn ông S có thực tế cư trú tại số 6/1/14/27, Đường M, Khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp là ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Nguyên đơn bà P có đơn xin được vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Bị đơn ông S đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông S.

Về nội dung: Xét yêu cầu của bà P, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Bùi Tấn S tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 20/6/2003 và được Ủy ban nhân dân xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 59. Do đó, căn cứ Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông S là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Xét thấy, trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ, bà P cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông S vì tình cảm vợ chồng đã không còn. Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 07/9/2023, ông S cũng có ý kiến đồng ý ly hôn với bà P. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà P và ông S đã thật sự trầm trọng, khả năng hàn gắn đoàn tụ gia đình không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.

Về con chung:

Căn cứ Giấy khai sinh đăng ký ngày 17/02/2004 do Ủy ban nhân dân xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long cấp và Giấy khai sinh đăng ký ngày 29/10/2012 do Ủy ban nhân dân xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam cấp và sự thừa nhận của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định bà P và ông S có 02 con chung tên Bùi Tấn T, sinh ngày 09/01/2004 và Bùi Tấn P, sinh ngày 15/9/2012. Con chung tên Bùi Tấn T đã thành niên.

Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Tấn P, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung tên Bùi Tấn P. Ông S cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Tấn P, không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy cả bà P và ông S đều có nguyện vọng được nuôi con. Tuy nhiên, cháu Bùi Tấn P có nguyện vọng được ở với mẹ. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, căn cứ vào quyền lợi và nguyện vọng của cháu Phát, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P, không chấp nhận yêu cầu của ông S, giao con chung tên Bùi Tấn P cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà P không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà P xác định hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Nếu vợ chồng không tự thỏa thuận được thì bà P hoặc ông S sẽ khởi kiện trong vụ kiện khác. Ông S nộp đơn yêu cầu chia tài sản chung vào ngày 07/9/2023. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu chia tài sản chung của ông S phát sinh sau khi Tòa án đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, ông S cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh tài sản chung vợ chồng. Hơn nữa, việc Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn và con chung của các đương sự trong vụ án này cũng không làm mất đi quyền yêu cầu chia tài sản chung của ông S, ông S có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung trong vụ kiện khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của ông S trong vụ án này, ông S có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

Về nợ chung: Bà P và ông S xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có cơ sở.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà P phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 186, Điều 200, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;

- Căn cứ Điều 19, 51, 53, 54, 56, 57, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị P và ông Bùi Tấn S.

1.2 Về con chung: Bà Nguyễn Thị P và ông Bùi Tấn S có 02 con chung tên Bùi Tấn T, sinh ngày 09/01/2004 và Bùi Tấn P, sinh ngày 15/9/2012. Con chung tên Bùi Tấn T đã thành niên.

Giao con chung tên Bùi Tấn P cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị P không yêu cầu ông Bùi Tấn S cấp dưỡng nuôi con chung tên Bùi Tấn P.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

1.3 Về tài sản chung: Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung trong vụ án khác theo quy định của pháp luật.

1.4 Về nợ chung: Đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0004215 ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị P đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị P và ông Bùi Tấn S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ