- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Hà Duy N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Duy N.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số:407/2026/HNGĐ-ST Ngày: 29/04/2026 V/v: Không công nhận quan hệ cha, con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu
Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Mai và bà Lê Thị Thu Hạnh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên - Cán bộ Toà án nhân dân khu vực 11 – Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 04 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11- Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 73/2026/TLST-HNGĐ ngày 21/01/2026 về việc “Không công nhận quan hệ cha, con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:140/2026/QĐXX ngày 17/04/2026, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Hà Duy N, sinh năm 1989
Nơi thường trú và trú tại: Thôn M2, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình nay là phường T, tỉnh Hưng Yên
(Anh N vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Bị đơn: Chị Phạm Thu H, sinh năm 1992
Nơi thường trú: Số X phố L, phường L, quận Ng, thành phố Hải Phòng nay là phường G, thành phố Hải Phòng
Trú tại: Số X dãy B, thôn Y, xã N, thành phố Hà Nội
(Chị H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Phạm Khánh L sinh ngày 04/01/2024
Người đại diện hợp pháp cho cháu L là chị Phạm Thu H
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn đề nghị không công nhận quan hệ cha, con và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là anh Hà Duy N trình bày:
Tôi và chị Phạm Thu H đăng ký kết hôn ngày 27/04/2015 tại UBND phường Gia Viên, TP. Hải Phòng. Quá trình chung sống chúng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không hạnh phúc nên chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2020, không có quan hệ tình cảm với nhau. Trong thời gian sống ly thân, chị H có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Ngày 04/01/2024, chị H đã sinh con gái đặt tên là Phạm Khánh Linh theo Giấy chứng sinh số 69, quyển số 03 của Bệnh viện Đa khoa Thanh Trì. Ngày 10/12/2025, tôi và chị H ly hôn tại Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà Nội. Do cháu L không phải là con chung giữa tôi và chị H nên trong Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 449/2025/QĐST- HNGĐ đã xác định về con chung như sau: “Về con chung: Có 02 con chung là cháu Hà Minh Phương, sinh ngày 19/05/2016 và cháu Hà Minh Đức, sinh ngày 29/11/2017. Anh N và chị H thỏa thuận: Giao cả 02 cháu Hà Minh Phương và Hà Minh Đức cho anh Hà Duy N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Phương và cháu Đức đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác…”
Tháng 12/2025, chị H đã yêu cầu Công ty cổ phần công nghệ Gen ứng dụng Việt Nam tiến hành giám định AND giữa tôi và cháu Phạm Khánh L. Theo kết quả xét nghiệm AND số 251219.42 ngày 19/12/2025 của Công ty cổ phần công nghệ Gen ứng dụng Việt Nam kết luận: Hà Duy Nhất không có quan hệ huyết thống cha – con với Phạm Khánh L
Nay đề nghị Tòa án xác định tôi không phải là cha đẻ của cháu Phạm Khánh L theo quy định pháp luật.
* Bị đơn là chị Phạm Thu H trình bày: Về quá trình kết hôn và ly hôn đúng như anh N trình bày.
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 449/2025/QĐST- HNGĐ ngày 10/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà Nội đã quyết định như sau:
- Về quan vợ chồng: Anh Hà Duy N và chị Phạm Thu H thỏa thuận thuận tình ly hôn
- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Hà Minh Phương, sinh ngày 19/05/2016 và cháu Hà Minh Đức, sinh ngày 29/11/2017. Anh N và chị H thỏa thuận: Giao cả 02 cháu Hà Minh Phương và Hà Minh Đức cho anh Hà Duy N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Phương và cháu Đức đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác…”
Trong thời kỳ hôn nhân với anh N, tôi có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nên ngày 04/01/2024, tôi đã sinh 01 cháu gái theo Giấy chứng sinh số 69, quyển số 03 của Bệnh viện Đa khoa Thanh Trì, TP. Hà Nội, dự định đặt tên con là Phạm Khánh Linh
Tháng 12/2025, tôi đã yêu cầu phân tích ADN huyết thống giữa anh N và cháu Phạm Khánh L. Theo kết quả xét nghiệm AND số 251219.42 ngày 19/12/2025 của Công ty cổ phần công nghệ Gen ứng dụng Việt Nam kết luận: Hà Duy N không có quan hệ huyết thống cha – con với Phạm Khánh L
Nay anh N đề nghị Tòa án xác định anh không phải là cha đẻ của cháu Phạm Khánh L, tôi đồng ý. Đề nghị Tòa án xác định anh Hà Duy N không phải là cha đẻ của cháu Phạm Khánh L.
Tại phiên toà:
- Anh Hà Duy N vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Chị Phạm Thu H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, như sau:
+ Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật.
+ Đối với việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành, đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Về việc giải quyết vụ án: Anh Hà Duy N và chị Phạm Thu H ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 449/2025/QĐST- HNGĐ ngày 10/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà Nội. Anh N và chị H có 02 con chung là cháu Hà Minh Phương, sinh ngày 19/05/2016 và cháu Hà Minh Đức, sinh ngày 29/11/2017
Trong thời kỳ hôn nhân giữa anh N và chị H, chị H có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, ngày 04/01/2024, chị H sinh cháu bé gái dự kiến đặt tên là Phạm Khánh Linh. Ngày 19/12/2025, anh N đi xét nghiệm AND tại Công ty cổ phần công nghệ Gen ứng dụng Việt Nam và có kết luận: Hà Duy N không có quan hệ huyết thống cha – con với Phạm Khánh Linh. Do đó anh N đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11 – Hà Nội xác định anh không phải là cha đẻ của cháu Phạm Khánh L sinh ngày 04/01/2026
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Duy N. Xác định anh Hà Duy N không phải là cha đẻ của cháu Phạm Khánh L sinh ngày 04/01/2024 theo Giấy chứng sinh số 69, quyển số 03 của Bệnh viện Đa khoa Thanh Trì, TP. Hà Nội. Anh N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:
Anh Hà Duy N có đơn khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ cha, con đối với bị đơn là chị Phạm Thu H có nơi ở tại: Số X dãy B, thôn Y, xã N, thành phố Hà Nội. Toà án nhân dân khu vực 11- Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, anh N và chị H đều có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về quan hệ tranh chấp: Anh Hà Duy N và chị Phạm Thu H đăng ký kết hôn ngày 27/04/2015 tại UBND phường Gia Viên, TP. Hải Phòng và có 02 con chung tên là cháu Hà Minh Phương, sinh ngày 19/05/2016 và cháu Hà Minh Đức, sinh ngày 29/11/2017. Ngoài ra anh N và chị H không có con chung nào khác. Ngày 10/12/2025, Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà Nội đã ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 449/2025/QĐST- HNGĐ. Trong thời kỳ hôn nhân với anh N, chị H có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, ngày 04/01/2024 chị H sinh 01 cháu bé gái tại Bệnh viện đa khoa Thanh Trì, TP. Hà Nội, dự kiến đặt tên là Phạm Khánh Linh vì vậy cháu Phạm Khánh L được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa anh N và chị H.
Ngày 19/12/2025, Công ty cổ phần công nghệ Gen ứng dụng Việt Nam và có kết luận: Hà Duy Nhất không có quan hệ huyết thống cha – con với Phạm Khánh L
Ngày 28/01/2026, Tòa án có công văn số 99/CV- TA về việc yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan kết quả phân tích AND gửi Công ty cổ phần công nghệ Gen ứng dụng Việt Nam. Ngày 10/03/2026, Công ty cổ phần công nghệ Gen ứng dụng Việt Nam có công văn số 2603/GNT.42 phúc đáp với nội dung: Theo đơn yêu cầu xét nghiệm AND cha – con của chị Phạm Thu H là mẹ đẻ cháu Phạm Khánh L (Ngày sinh 04/01/2024, Số giấy chứng sinh 69, Quyển số 03; ngày cấp 04/01/2024; Nơi cấp: Bệnh viện đa khoa Thanh Trì, TP. Hà Nội), chị H yêu cầu xét nghiệm AND giữa anh Hà Duy N (Ngày sinh 25/10/1989; Quốc tịch: Việt Nam; Sô CCCD xxxxxxxxxxxx; Ngày cấp: 08/12/2021; ngày hết hạn: 25/10/2029; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) và cháu Phạm Khánh L. Chúng tôi đã cử cán bộ trực tiếp thu mẫu máu làm xét nghiệm phân tích AND. Kết quả ngày 19/12/2025 số 251219.42 cho thấy: “Hà Duy Nhất không có quan hệ huyết thống Cha – con với Phạm Khánh L. Chúng tôi xác nhận kết quả này là đúng sự thật. Quy trình thu mẫu làm xét nghiệm hoàn toàn chính xác và khách quan.
Do đó anh Hà Duy N có đơn đề nghị Tòa án không công nhận anh là cha đẻ của cháu Phạm Khánh L sinh ngày 04/01/2024 là phù hợp với với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định anh Hà Duy N không phải là cha đẻ của cháu Phạm Khánh L, sinh ngày 04/01/2024 theo quy định tại khoản 2 Điều 88 và khoản 2 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Anh N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 8 Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 2 Điều 88 và khoản 2 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Duy N.
Xác định anh Hà Duy N không phải là cha đẻ của cháu Phạm Khánh L sinh ngày 04/01/2024 theo Giấy chứng sinh số 69, quyển số 03 của Bệnh viện Đa khoa Thanh Trì, TP. Hà Nội
2. Chị Phạm Thu H có quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hộ tịch để làm thủ tục khai sinh cho cháu Phạm Khánh L, sinh ngày 04/01/2024 theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Anh Hà Duy N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm
Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKSND khu vực 11- Hà Nội - Phòng THADS khu vực 11- Hà Nội - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Tự Hiếu |