vanban.org

Bản án 407/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/04/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Bộ luật Tố tụng dân sự;

84; Điều 116; Điều 117; Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình; ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "407"
  • Tòa quyết gì? của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 407/2022/HNGĐ-ST
Ngày 05-4-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Hễ;

2. Ông Nguyễn Hoài Bảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Ông Hà Thanh Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân

thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số

37/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 743/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3

năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà T (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Phường Q, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

2. Bị đơn: Ông S (vắng mặt).

Địa chỉ: Tỉnh I, Korea (Hàn Quốc).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 13 tháng 01 năm 2021 và lời khai của nguyên

đơn – bà T thì: Bà và ông S đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc theo Giấy chứng nhận

quan hệ hôn nhân do Hàn Quốc cấp ngày 23/01/2020; Trích lục ghi chú kết hôn

số 26/TLGCKH do UBND quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày

24/02/2020. Từ khi kết hôn đến nay, Bà và ông S chưa chung sống với nhau. Do

khoảng cách địa lý, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể cùng nhau

giải quyết. Từ tháng 10/2020 đến nay, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Do nhận

thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên

Bà khởi kiện yêu cầu ly hôn ông S.

Về con chung: Không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Bà.

Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền

của Hàn Quốc, nơi bị đơn – ông S cư trú để tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa cho ông S và yêu cầu ông S trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T nhưng ông S không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án và Hội đồng xét

xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông S

đang cư trú tại Hàn Quốc (Korea), nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn – bà T có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và xét xử vắng

mặt; Tòa án đã lập hồ sơ ủy thác tư pháp tống đạt các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai và thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn – ông S, nên căn cứ Điều 227; Khoản 1 Điều 228 và Khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông S.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Về hôn nhân: Căn cứ Trích lục ghi chú kết hôn số 26/TLGCKH ngày

24/02/2020 do Ủy ban nhân dân Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam cấp thì giữa bà T và ông S là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của bà T thì từ khi kết hôn đến nay, Bà và ông S chưa chung sống với nhau, do khoảng cách địa lý, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể cùng nhau giải quyết. Từ tháng 10/2020 đến nay, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, do tình cảm vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà yêu cầu ly hôn ông S. Xét trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã không có văn bản nêu ý kiến và cũng không đến Tòa án để đưa ra giải pháp để vợ chồng đoàn tụ, cả hai hiện có khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng không tồn tại, đây là căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa hai người không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn nên bà T

phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1, Điều 28; Điều 35; Điều 37; Điều 38; Khoản 4,

Điều 147; Khoản 4, Điều 207; Khoản 1, Điều 273; Khoản 1, Khoản 2, Điều 479

của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 19; Khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều

84; Điều 116; Điều 117; Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ vào Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

Về hôn nhân: Bà T được ly hôn ông S.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là

300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự

sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng

án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0093613 ngày 28 tháng 01 năm 2021 của Cục

Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ

thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn – bà T được quyền kháng cáo trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án; bị đơn – ông S được

quyền kháng cáo trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ