vanban.org

Bản án 407/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng

cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự của các đương sự được thực Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 406/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 18/7/2019
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Thu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Mỹ Oanh

2. Bà Lê Như Nguyệt

Thư ký phiên Tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Bà

Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11 xét xử sơ

thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2019/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 02 năm 2019 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 36/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2019/QĐST-DS ngày 28/6/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bành Ngọc K, sinh năm: 1985; địa chỉ: D21/569A Ấp 4,

xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt);

2. Bị đơn: Ông Hồng Kiến V , sinh năm: 1978; địa chỉ: 247/33/44 đường Q,

Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/01/2019, bản tự khai và trong quá trình giải

quyết vụ án, nguyên đơn – bà Bành Ngọc K trình bày:

Bà K và ông Hồng Kiến V là vợ chồng chung sống hợp pháp theo Giấy

chứng nhận kết hôn số 152, quyển số 1-06 đăng kí ngày 28/12/2006 tại Ủy ban nhân dân Phường 2 Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong thời gian chung sống, giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu

thuẫn, cuộc sống và kinh tế trong gia đình một tay bà K lo cho chồng con. Ông V không lo làm ăn trong suốt 12 năm chung sống mà lại còn thường xuyên nhậu nhẹt, hay vô cớ mắng chửi và đánh đập bà K rất nhiều lần. Nay bà K xác định tình cảm đối với ông V không còn, cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc và không thể chịu được cuộc sống hôn nhân này nữa nên bà K yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà K được ly hôn với ông Hồng Kiến V . Về con chung: Có 01 con chung là Hồng Gia H (nữ, sinh ngày 11/5/2007). Bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Hồng Gia Hân, bà K không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ý kiến bị đơn: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ về nơi cư trú của bị đơn, theo kết quả xác minh Công an Phường 3, Quận 11 cho biết ông Hồng Kiến V đang cư ngụ tại 247/33/44 đường Q, Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án đã tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng, triệu tập bị đơn đến Tòa án để giải quyết vụ kiện nhưng bị đơn – ông Hồng Kiến V đã không đến Tòa án để giải quyết vụ án cũng như không có văn bản phản hồi; do đó, không thể lấy lời khai cũng như tiến hành hòa giải với bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về nội dung giải quyết vụ án như sau: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ, quyền và lợi ích hợp pháp được đảm bảo.

Về nội dung: qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa thể hiện yêu cầu khởi kiện của bà Bành Ngọc K là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Bành Ngọc K được ly hôn với ông Hồng Kiến V, trẻ Hồng Gia H (nữ, sinh ngày 11/5/2007) giao cho bà Bành Ngọc K trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có nhận định: [1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Bành Ngọc K khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hồng Kiến V, đây là loại tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, ông V hiện đang cư trú trên địa bàn Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; do đó, theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn: Trong quá trình giải

quyết vụ án, các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập tham gia hòa giải, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập tham dự phiên tòa, Quyết định hoãn phiên tòa đều đã được tống đạt hợp lệ đúng theo quy định. Tuy nhiên, trong các lần hòa giải cũng như cả hai lần Tòa án mở phiên tòa, bị đơn - ông Hồng Kiến V - đều vắng mặt mà không rõ lý do. Ngày 28/6/2019 nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về các yêu cầu của đương sự:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết số 152, quyển số: 106 do Ủy ban nhân dân

phường 2, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/12/2006, thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Bành Ngọc K và ông Hồng KiếnV là hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng là yếu tố cơ bản của hôn

nhân và phải dựa trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên. Xét thấy bà K và ông V thường xuyên mâu thuẫn do ông V hay nhậu nhẹt, hay vô cớ mắng chửi và đánh đập bà K và không có trách nhiệm với gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, trong đó có văn bản thể hiện rõ các yêu cầu khởi kiện của bà K , nhưng ông V không hề có ý kiến phản hồi và việc không đến Tòa án tham gia vào việc giải quyết vụ án cũng thể hiện rằng ông V không có thiện chí đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình. Từ những nguyên nhân trên cho thấy, quan điểm sống của vợ chồng không phù hợp. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà K và ông V là trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận việc bà K yêu cầu được ly hôn với ông V.

Về con chung: Có một con chung là trẻ Hồng Gia Hân (nữ, sinh ngày

11/5/2007). Xét thấy bà K có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Hồng Gia Hân, trẻ Hồng Gia Hân là nữ đang ở giai đoạn phát triển nên rất cần mẹ chăm sóc nuôi dưỡng. Về kinh tế bà K có nghề buôn bán, thu nhập ổn định, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của trẻ Hân đồng thời phù hợp với nguyện vọng của trẻ; do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Bành Ngọc K giao trẻ Hồng Gia Hân (nữ, sinh ngày 11/5/2007) cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, bà K tự nguyện không yêu cầu ông V cấp

dưỡng nuôi con, xét sự tự nguyện của đương sự không trái với quy định của pháp luật nên ghi nhận.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về án phí: bà Bành Ngọc K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 đồng theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [4] Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Căn cứ Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Bành Ngọc K; 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bành Ngọc K được ly hôn với ông Hồng Kiến V (Giấy chứng nhận kết hôn số 152, quyển số 1-06 do Ủy ban nhân dân Phường 2 Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/12/2006 không còn giá trị). 2. Về con chung: Bà Bành Ngọc K được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Hồng Gia H (nữ, sinh ngày 11/5/2007). Ghi nhận sự tự nguyện của bà Bành Ngọc K không yêu cầu ông Hồng Kiến V cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn ông Hồng Kiến V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Bành Ngọc K và ông Hồng Kiến V được quyền khởi kiện giải quyết về tài sản khi có yêu cầu. 4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 5. Án phí: Bà Bành Ngọc K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà K đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2016/0009717 ngày 25/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng

cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

7. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự của các đương sự được thực

hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ