vanban.org

Bản án 407/2018/KDTM-PT — Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/04/2018 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/04/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của Cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp và Đ Thành phố HCM Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố HCM. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HCM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 407/2018/KDTM-PT
Ngày: 23/4/2018
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HCM

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trinh

Các Thẩm phán:

Bà Vũ Thị Thu Hà

Bà Nguyễn Thu Chinh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Phượng – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố HCM

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố HCM tham gia phiên tòa: Bà Thân Trọng M Phương– Kiểm sát viên

Trong các ngày 19 tháng 4 năm 2018 và 23 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố HCM: số 26 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố HCM, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2017/TLPT-KDTM ngày 02 tháng 11 năm 2017 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Do bản án kinh doanh sơ thẩm số 36/2017/KDTM-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố HCM bị kháng cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố HCM theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐKNPT-VKS-KDTM ngày 12/10/2017.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1065/2018/QĐPT-KDTM ngày 05 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1922/2017/QĐ-PT ngày 30 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N.T Việt Nam

Địa chỉ: 198 Trần Quang K, phường Lý Thái T, quận Đ, HN

Đại diện ủy quyền: Ông Vũ Trọng M – Sinh năm 1958 (Giấy ủy quyền số 4615/UQ-HCM.KHDN1 ngày 26/7/2017)

Địa chỉ: Tòa nhà VBB, số 5 Công trường Mê L, phường Bến N, Quận 1, Thành phố HCM

2. Bị đơn: Công ty CP Xuất nhập khẩu Tổng hợp và Đ Thành phố HCM

Địa chỉ: 56-58 đường Phú T, Phường 2, Quận 11, Thành phố HCM

Đại diện theo pháp luật: ông Trần Văn M - Tổng giám đốc

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Hải Đức – Luật sư thuộc đoàn luật sư Thành phố HCM

3. Người kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố HCM

4. Người kháng cáo: Công ty CP Xuất nhập khẩu Tổng hợp và Đ Thành phố HCM

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì sự việc đươc tóm tắt như sau:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 5 tháng 6 năm 2017, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần N.T Việt Nam (Vietcombank) ông Vũ Trọng M trình bày: Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tổng hợp và Đ Thành phố HCM (viết tắt là Imexco) tiền thân là Tổng Công ty xuất nhập khẩu tổng hợp và Đ thành phố HCM trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố HCM, sau đó được cổ phần hóa và chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quyết định số 3375/QĐ-UB ngày 18 tháng 8 năm 2003 của Ủy ban Nhân dân Thành phố HCM. Trước đây, theo đề nghị của Tổng công ty xuất nhập khẩu tổng hợp và Đ thành phố HCM (có sự phê duyệt của bộ N.T), Vietcombank có mở nhiều thư tín dụng để Tổng công ty xuất nhập khẩu tổng hợp và Đ thành phố HCM hoạt động kinh doanh mua hàng từ nước ngoài nhưng sau đó Tổng Công ty xuất nhập khẩu tổng hợp và Đ thành phố HCM không thanh toán đầy đủ, còn nợ các khoản cụ thể như sau:

- Khoản nợ thư tín dụng LC số 024S285LC773: Căn cứ đơn xin mở LC số 3849/TCT/XNK ngày 30 tháng 12 năm 1985 của Imexco về việc xin mở LC trả chậm 360 ngày, trị giá 84.205.000 Yên Nhật để Imexco nhập phụ tùng Honda. Sau đó đơn vị bán là Công ty Thái Bình Trading corporation đã gửi 05 hối phiếu yêu cầu thanh toán cộng tổng là 71.555.000 Yên Nhật và từng hối phiếu có ghi rõ ngày phát hành, ngày xác nhận thanh toán, ngày đáo hạn hối phiếu. Đến hạn Imexco chỉ thanh toán được 30.334.000 Yên Nhật. Như vậy Imexco còn nợ lại 41.221.000 Yên Nhật

- Khoản nợ thư tín dụng LC số 024S286LC722: Căn cứ đơn xin mở LC ngày 15 tháng 9 năm 1986 của Imexco về việc xin mở LC trả chậm 360 ngày trị giá 58.160.000 Yên Nhật để công ty nhập 2.666 tấn bột mì. Sau đó đơn vị bán là Công ty Thái Bình Trading corporation đã gửi 02 hối phiếu yêu cầu thanh toán tổng cộng là 58.160.000 Yên Nhật và từng hối phiếu có ghi rõ ngày phát hành xác nhận, ngày thanh toán, ngày đáo hạn hối phiếu. Đến hạn Imexco chỉ thanh toán được một phần hối phiếu là 36.160.000 Yên Nhật. Như Vậy Imexco còn lại nợ lại 22.000.000 Yên Nhật

- Khoản nợ mở thư tín dụng LC số 024S286LC787: Căn cứ đơn xin mở LC ngày 20 tháng 10 năm 1986 của Imexco về việc xin mở LC trả chậm 360 ngày trị giá 337.506.000 Yên Nhật để Imexco nhập 390 xe ô tô các loại. Sau đó đơn vị bán là Công ty Thái Bình Trading corporation đã gửi 12 hối phiếu yêu cầu thanh toán tổng cộng là 337.506.000 Yên Nhật và từng hối phiếu có ghi rõ ngày phát hành, ngày xác nhận thanh toán, ngày đáo hạn hối phiếu. Đến hạn Imexco chỉ thanh toán được một phần các hối phiếu tổng cộng là 169.779.000 Yên Nhật. Như vậy Imexco còn nợ lại 167.707.000 Yên Nhật.

- Khoản nợ thư tín dụng LC số 024S288LC979: Căn cứ đơn xin mở LC ngày 4 tháng 11 năm 1988 của Imexco về việc xin mở LC trả chậm 360 ngày trị giá 6.821.000 Yên Nhật để Imexco nhập phục tùng đường dây cao thế. Sau đó đơn vị bán là Công ty Velk Trading corporation đã gửi 01 hối phiếu yêu cầu thanh toán 6.821.000 Yên Nhật và hối phiếu có ghi rõ ngày phát hành, ngày xác nhận thanh toán, ngày đáo hạn hối phiếu. Đến hạn, Imexco chưa thanh toán cho hối phiếu này như vậy Imexco vẫn còn nợ 6.821.000 Yên Nhật

- Khoản nợ mở thư tín dụng LC số 024S287LC1129: Căn cứ đơn xin mở LC ngày 8 tháng 9 năm 1987 của Imexco về việc xin mở LC trả chậm 360 ngày trị giá 39.860.000 Yên Nhật để Imexco nhập radio cassette. Sau đó đơn vị bán là YUSIN Trading Corporation đã gửi 01 hối phiếu yêu cầu thanh toán 38.739.600 Yên Nhật và hối phiếu có ghi rõ ngày phát hành, ngày xác nhận thanh toán, ngày đáo hạn hối phiếu. Đến hạn Imexco chỉ thanh toán được một phần các hối phiếu, tổng cộng là 24.239.000 yên Nhật. Như vậy Imexco còn nợ lại 14.500.000 Yên Nhật.

Toàn bộ các khoản nêu trên của Imexco đều không có tài sản đảm bảo trong suốt thời gian từ khi Vietcombank mở các thư tín dụng nêu trên cho Imexco, nhưng Imexco không thanh toán được để Vietcombank chuyển trả cho nước ngoài theo thông lệ quốc tế mặc dù Vietcombank liên tục đôn đốc và báo cáo với Ủy ban Nhân dân Thành phố HCM. Ngày 21 tháng 6 năm 2004, Vietcombank và Imexco có biên bản xác nhận nợ, qua biên bản xác nhận nợ này Imexco đã thừa nhận khoản nợ 5 LC nói trên.

Quá trình nợ kéo dài, Nhật Bản đã gây áp lực đến chính phủ Việt Nam thông qua việc đòi cắt giảm vốn ODA nếu không thanh toán các khoản nợ thư tín dụng cho các công ty của Nhật Bản. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước Việt Nam, trong các ngày 17 tháng 11 năm 2004 và 19 tháng 11 năm 2004, Vietcombank đã đàm phán và ký kết thỏa thuận với NEXI, SC để thanh toán các khoản nợ thư chưa thanh toán trong đó có 5 LC của Imexco với số tiền thanh toán tổng cộng vào ngày 30 tháng 11 năm 2004 là 252.249.000 Yên Nhật. Sau khi thực hiện việc ứng vốn thanh toán cho nên NEXI, SC, vào ngày 30 tháng 11 năm 2004, Vietcombank cũng đã liên tục làm việc và yêu cầu Imexco thanh toán nợ nhưng Imexco nêu lý do gặp nhiều khó khăn và kinh doanh thua lỗ không có tiền trả nợ. Đến ngày 14 tháng 4 năm 2017, khi phát hiện tài khoản của Imexco có tiền thì Vietcombank mới trích trừ 294.000 Yên Nhật để thu hồi một phần nợ.

Do vậy Vietcombank yêu cầu Imexco thanh toán toàn bộ số tiền mà Vietcombank đã trả thay cho Imexco cho nước ngoài theo dư nợ phát sinh từ 5 LC nói trên với tổng số tiền là 251.955.000 yên Nhật tương đương với 51.219.931.950 đồng Việt (theo tỷ giá ngày 21 tháng 9 năm 2017). Yêu cầu thanh toán ngay khi án có hiệu lực pháp luật và Vietcombank không yêu cầu tính lãi đối với khoản tiền trên.

Công ty Imexco đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng trong quá trình xét xử sơ thẩm vắng mặt không có lý do.

Tại bản án số 36/2017/KDTM-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố HCM đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc Công ty CP XNK Tổng hợp và Đ Thành phố HCM thanh toán cho Ngân hàng TMCP N.T Việt Nam số tiền 251.955.000 Yên Nhật.

Việc thanh toán được thực hiện sau khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền phải trả, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 16/10/2017, Công ty CP XNK Tổng hợp và Đ Thành phố HCM kháng cáo toàn bộ nội dung bản án số 36/2017/KDTM-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố HCM.

Ngày 12/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố HCM kháng nghị một phần bản án số 36/2017/KDTM-ST ngày 21/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố HCM.

Ngày 24/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 ra Quyết định thay đổi quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-KDTM .

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện bị đơn – ông Trần Văn M là người kháng cáo vắng mặt không lý do.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn – Luật sư Trần Hải Đ vắng mặt không lý do

Đại diện nguyên đơn – ông Vũ Văn M yêu cầu cấp phúc thẩm y án sơ thẩm, vì bị đơn không có thiện chí trả nợ, cố tình kéo dài thời gian, cụ thể bị đơn kháng cáo nhưng lại không đến tòa. Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 21/9/2017 nguyên đơn có cung cấp tỷ giá 01 Yên Nhật là 203,29 đồng Việt Nam là dựa trên bảng tỷ giá ngoại tệ tự do chuyển đổi của Vietcombank, còn các kháng nghị khác nguyên đơn không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố HCM phát biểu - đề nghị:

Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và tại phiên xét xử, hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị đơn kháng cáo nhưng không đến tham gia phiên tòa nên đề nghị hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Về phần kháng nghị: Ngày 12/10/2017 Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố HCM kháng nghị đối với bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 36/2017/KDTM-ST ngày 21/9/2017 và Quyết định thay đổi kháng nghị số 01/QĐ-VKS-KDTM ngày 24/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố HCM. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố nhận thấy, căn cứ vào các đơn xin mở thư tín dụng LC của Công ty Imexco để Imexco nhập hàng hóa và Vietcombank có trách nhiệm thanh toán cho đối tác nước ngoài, như vậy từ việc Imexco mở LC đến việc không thanh toán lại các khoản tiền mà ngân hàng đã thanh toán cho các đối tác là Nhật Bản thì tranh chấp giữa Ngân hàng N.T và Công ty Imemexco là quan hệ tranh chấp tín dụng, không phải là tranh chấp về chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự, nên Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố HCM rút lại phần kháng nghị này của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11;

Yên Nhật là ngoại tệ lưu thông trên thị trường và được quy đổi sang đồng tiền Việt Nam, lên xuống theo giá cả thị trường, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ngân hàng cung cấp bảng tỷ giá ngoại tệ tự do chuyển đổi tại Thành phố HCM lúc 13 giờ 12 phút, ngày 21/9/2017 là ngày tòa án sơ thẩm xét xử tuyên án, 01 Yên quy đổi 203,29 đồng. Đồng thời, theo trang web ww.vietcombank.com.vn cập nhật lúc 18 giờ 00 phút, ngày 21/9/2017, tỷ giá ngoại tệ 01 Yên Nhật quy đổi 203,29 đồng Việt. Mặt khác, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 cũng không in bảng tỷ giá theo giá quy đổi mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã cập nhật để chứng M tỷ giá của án sơ thẩm là sai nên không có căn cứ điều chỉnh nên Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố HCM rút kháng nghị phần này.

Đối với phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, kháng nghị Tòa án nhân dân Quận 11 không thực hiện việc thông báo kết quả phiên họp cho bị đơn (do bị đơn vắng mặt) là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được quy định tại Điều 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nhận thấy, vào các ngày 02/8/2017 và 16/8/2017 Tòa án cấp sơ thẩm đã mở các phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng Công ty Imexco đều vắng mặt; Tòa án không thông báo kết quả phiên họp cho Công ty Imexco là vi phạm thủ tục tố tụng, tuy nhiên vi phạm này không phải là nghiêm trọng, nên không cần thiết phải hủy án, cấp phúc thẩm cần nhắc nhở cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

Về phần lãi, do đây là vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại nên phải chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại. Bản án sơ thẩm áp dụng Điều 305 Bộ luật dân sự 2005 để tuyên buộc Imexco phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả là không đúng, mà phải áp dụng Điều 306 Luật thương mại để buộc bị đơn phải chịu lãi suất chậm trả đối với khoản tiền nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm về lãi suất chậm trả.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

Tại phiên tòa phúc, bị đơn – Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tổng hợp và Đ Thành phố HCM và luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn – ông Trần Hải Đức vắng mặt, hội đồng xét xử, nhận thấy: Ngày 15/3/2018 bị đơn – có đơn yêu cầu Văn Phòng luật sư Trần Hải Đức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, ngày 28/3/2018 ông Trần Hải Đức đến Tòa án nhân dân Thành phố HCM làm thủ tục tham gia phiên tòa và có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do chưa kip đọc hồ sơ. Ngày 10/4/2018, tòa án tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa số 1922/2018/QĐ-PT ngày 30/3/2018 và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa lúc lúc 08 giờ 00 phút, ngày 19/4/2018 cho ông Trần Hải Đức; đối với bị đơn, ngày 14/3/2018 và ngày 10/4/2018 tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1065/2018/QĐPT-KDTM ngày 05/3/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 1922/2018/QĐ-PT ngày 30/3/2018 và giấy triệu tập tham gia phiên tòa lúc 08 giờ 00 phút, ngày 30/3/2018 và 08 giờ 00 phút, ngày 19/4/2018, do bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng nên hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Tổng hợp và Đ Thành phố HCM theo như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện viện kiểm sát thành phố HCM rút một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 về quan hệ tranh chấp của vụ án và tỷ giá đồng Yên tại thời điểm xét xử nên hội đồng xét xử không xét.

Đối với phần kháng nghị, Tòa án nhân dân Quận 11 thông thực hiện việc thông báo kết quả phiên họp cho bị đơn (do bị đơn vắng mặt) là vi phạm nghiêm trọng được quy định tại Điều 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử, nhận thấy: Ngày 26/7/2018, tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố HCM tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 13.1/TB-TA ngày 21/7/2017 (phiên họp lúc 14 giờ 00 phút, ngày 02/8/2017) cho bị đơn – Công ty cổ phần XNK Tổng hợp và Đ Thành phố HCM (Imexco), tuy nhiên ngày 01/8/2017, bị đơn có đơn xin vắng mặt nên Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố HCM có lập biên bản ghi nhận sự việc không thể tiến hành phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Ngày 09/8/2017, Tòa án nhân dân Quận 11 tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 13.2/TB-TA ngày 07/8/2017 (phiên họp lúc 14 giờ 00 phút, ngày 16/8/2017) cho bị đơn nhưng bị đơn cũng không đến tham dự phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 11 có lập biên bản ghi nhận sự việc và biên bản ghi nhận không tiến hành hòa giải được. Xét thấy, căn cứ Khoản 3 Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định về Trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì “Trường hợp người được Tòa án triệu tập vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ”, cấp sơ thẩm không thông báo cho bị đơn là có thiếu sót nhưng không nghiêm trọng, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Phần kháng nghị bản án sơ thẩm tuyên nghĩa vụ do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo Khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự 2005. Xét thấy, cấp sơ thẩm căn cứ các đơn xin mở thư tín dụng, các hồi phiếu yêu cầu thanh toán của các đơn vị bán hàng, các văn bản thể hiện Vietcombank trả thay Imexco cho nước ngoài 05 LC số 024S285LC773, 024S286LC722, 024S286LC787, 024S288LC979, 024S288LC1129 và Biên bản xác nhận công nợ ngày 21/6/2014 để buộc Imexco trả số tiền 251.955.000 Yên Nhật cho Vietcombank là có cơ sở. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm tuyên bị đơn phải chịu lãi suất trong trường hợp chậm thanh toán theo nghĩa vụ do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự quy định tại Khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự 2005 là không đúng quy định pháp luật, bởi vì, vụ án này là vụ án kinh doanh thương mại, do vậy phải chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại nên phải áp dụng Điều 306 Luật thương mại để buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

Từ nhận định trên, hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành Phố HCM và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố HCM, Đình chỉ xét xử kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm.

Các nội dung khác, Viện kiểm sát không kháng nghị nên giữ nguyên án sơ thẩm.

Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: do sửa bản án sơ thẩm nên Bị đơn - không phải chịu án phí phúc thẩm và được hoàn lại 2.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 148; Khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại 2005;

- Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của Cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp và Đ Thành phố HCM

2. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố HCM.

3. Sửa một phần bản án sơ thẩm .

4. Buộc Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp và Đ Thành phố HCM thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N.T Việt Nam số tiền 251.955.000 (hai trăm năm mươi mốt triệu chín trăm năm mươi lăm ngàn) Yên Nhật.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày người được thi hành có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

5. Về án phí.

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp và Đ Thành phố HCM chịu 159.219.932 (một trăm năm mươi chín triệu hai trăm mười chín ngàn chín trăm ba mươi hai) đồng.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N.T Việt Nam 80.077.342 (tám mươi triệu không trăm bảy mươi bảy ngàn ba trăm bốn mươi hai) đồng tiền nộp án phí theo biên lai thu số AG/2014/0004246 ngày 03/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố HCM.

Hoàn lại tiền tạm nộp án phí phúc thẩm cho Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp và Đ Thành phố HCM 2.000.000 (hai triệu) đồng theo biên biên lai thu số AE/2014/0004588 ngày 25/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố HCM.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các qui định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ