- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Toµ ¸n nh©n d©n Thµnh phè Vinh TØnh NghÖ an Bản án số: 407/2018/HSST Ngày: 20/9/2018 |
Nh©n danh
N¦íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n Thµnh phè Vinh
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu – Bà Phạm Thị Tố T1
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Đ Bảo - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 20/9/2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh mở phiên tòa C khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 384/2018/HSST ngày 23/8/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 610/2018/QĐXXST-HS ngày 03/9/2018 đối với bị cáo:
Bùi Xuân C; sinh năm 1989; nơi ĐKHKTT: Xóm 11B, xã L, huyện N, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Bùi Văn Tài và bà: Ngô Thị Minh; Vợ : Bùi Thị Oanh ; con có hai con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016 ; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 20/3/2016 công an huyện N xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Đã thi hành xong. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2018 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Đặng Thị T - sinh năm 1990 (vắng mặt)
Trú tại: Xóm 1B, xã Hưng Lĩnh, huyện N, Nghệ An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Lê Khắc T1 – Sinh năm 1980. Vắng mặt
Trú tại: Xóm 5, xã Hưng Xá, huyện N, Nghệ An
Anh Nguyễn Quốc Đ – Sinh năm 1984. Vắng mặt
Trú tại: Xóm 12, xã L, huyện N, Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ 1: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/6/2018 Bùi Xuân C đi bộ từ siêu thị Maximax đến trước số nhà 19, đường Trường Chinh, thuộc khối 10, phường Lê Lợi, thành phố Vinh, Nghệ An thì phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đen bạc của chị T dựng trước vỉa hè không có người trông coi, chìa khóa cắm trong ổ khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy đó. C lén lút ngồi lên xe, mở khóa nổ máy phóng xe bỏ chạy. Sau khi trộm được xe máy C đưa xe đến cầm cố cho anh Lê Khắc T1 lấy 2.000.000. Sau đó C đến chuộc xe và tiếp tục đưa xe máy đến cầm cố cho anh Nguyễn Quốc Đ lấy 4.000.000 đồng. Số tiền trên C tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá số 130/ KLĐG ngày 19/6/2018 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự thành phố Vinh kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát 37Z6 4582 đã qua sử dụng trị giá 9.000.000 đồng
Chiếc xe máy trên cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho người bị hại. Chị T không yêu cầu bồi thường gì thêm
Vụ thứ 2: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/6/2018 C bắt xe buýt đi từ thành phố Vinh sang thị trấn Đ Thọ, huyện Đ Thọ, Hà Tĩnh mua ma túy của một người đàn ông tên Thắng với số tiền 300.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, C cất dấu ma túy trong người rồi bắt xe taxi đi thành phố Vinh. Khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc xóm 11, xã Hưng Thông, huyện N, Nghệ An thị bị tổ C tác thuộc Đội cảnh sát hình sự công an thành phố Vinh phát hiện bắt quả tang.
Kết luận giám định số 779/KL-PC54 (MT) ngày 13/6/2018 của phòng kỹ thuật hình sự C an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất cục bột màu trắng thu giữ của Bùi Xuân C gửi tới giám định là ma túy Heroin có khối lượng 0,115 gam.
Cáo trạng số 410/CT-VKSTPBV ngày 20/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố Bùi Xuân C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 55 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Xuân C từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành chung cho cả hai tội từ 21 tháng đến 27 tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo
Tịch thu tiêu hủy số ma túy Heroin thu giữ của bị cáo
Tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia thu giữ của bị cáo.
Buộc bị cáo phải trả lại cho anh Nguyễn Quốc Đ số tiền 4.000.0000 đồng
Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST, DSST theo quy định pháp luật
Bị cáo không có tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra – C an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 10/6/2018 trước số nhà 19, đường Trường Chinh, khối 10, phường Lê Lợi, thành phố Vinh, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Đặng Thị T với trị giá tài sản là 9.000.000 đồng. Tiếp đó đến 21 giờ ngày 12/6/2018 tại đường liên thôn xóm 11, xã Hưng Thông, huyện N, Nghệ An bị cáo đã cất dấu 01 gói ma túy Heroin có khối lượng 0,115 gam để sử dụng.
Xét về nhân thân bị cáo và trị giá tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt, hành vi phạm tội nên Viện kiểm sát nhân thành phố Vinh truy tố về tội Trộm cắp tài sản và tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 1 Điều 173 và điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự C cộng, trị an xã hội và còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính nhưng không chịu tu dưỡng bản thân lại tiếp tục phạm tội, vì vậy cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần vì quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, sau khi bị cáo bị bắt về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Từ những phân tích ở trên nghĩ cần xử phạt bị cáo cao hơn mức khởi điểm của khung hình phạt và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị phạt tiền, nhưng xét thấy bị cáo không có C việc ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Đối với Lê Khắc T1 và Nguyễn Quốc Đ là người nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát 37Z6 4582. Do T1, Đ không biết chiếc xe trên do C phạm tội mà có nên không phạm tội
Đối với người đàn ông tên Thắng đã bán ma túy cho C, do C không biết được lai lịch cụ thể của người đàn ông này nên cơ quan điều tra C an thành phố Vinh không có căn cứ để xử lý.
Về dân sự: Chị Đặng Thị T đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu đền bù gì thêm về dân sự nên miễn xét.
Anh Nguyễn Quốc Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có yêu cầu bị cáo trả lại s số tiền 4.000.000đồng. Xét đây là yêu cầu chính đáng của anh Đ và tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý trả lại cho anh Đ số tiền đó. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải trả lại cho anh Nguyễn Quốc Đ số tiền 4.000.000 đồng.
Về vật chứng: 01 gói nhỏ có chứa ma túy Heroin thu giữ tại bị cáo được xác định là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong có chứa 01 sim Viettel và 01 sim Monifone thu giữ của bị cáo được xác định là C cụ phạm tội cần tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 điều 173, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 điều 51, Điều 55 BLHS xử phạt: Bị cáo Bùi Xuân C 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (12/6/2018)
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong dán kín ghi vật chứng thu giữ của Bùi Xuân C có chứa ma túy Heroin hiện có tại kho chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, Nghệ An theo phiếu nhập kho vật chứng số NK1100 tháng 9/2018.
Tịch thu hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong có chứa 01 sim Viettel và 01 sim Monifone hiện có tại kho chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, Nghệ An theo phiếu nhập kho vật chứng số NK1100 tháng 9/2018.
Về dân sự: Căn cứ điều Điều 47 BLHS: Buộc bị cáo phải trả cho anh Nguyễn Quốc Đ số tiền 4.000.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ điều 136 BLTTHS; Điều 23, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Buộc bị cáo Bùi Xuân C phải chịu 20/0.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí HSST và 300.000 đồng án phí DSST.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án¸ bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ
| N¬i nhËn - TAND tỉnh Nghệ An - VKSND tỉnh Nghệ An - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An - Trại tạm giam C an tỉnh Nghệ An - VKSND TP Vinh - Chi cục THA DS TP Vinh - C an TP Vinh - Bị cáo - Người bị hại - Lưu hồ sơ | T/M Héi §ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ Phạm Thị Minh Hiền |