vanban.org

Bản án 406/2022/DS-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 05/09/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "tranh chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật tố t ng d n sự; Điều 26 Bộ luật tố t ng d n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T N
N T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 406/2022/DS-PT
Ngày: 05 -9-2022
“V/v tranh chấp QSDĐ
và tài sản gắn liền với đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘN ÒA XÃ ỘI C Ủ N ĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N N N T N

N T

- T phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phạm Minh Tùng

Các Thẩm phán:

Ông Lê Khắc Thịnh

Bà Phạm Thị Liên Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nh n d n t nh Đ ng Tháp.

- i di n i n i m t nh n d n t nh ồng Th p: Bà Vũ Thị T Hằng - Ki m sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 05/9/2022, tại tr s Tòa án nh n d n t nh Đ ng Tháp m phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai v án th lý số: 115/2022/TLPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2021 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”. Do Bản án d n sự sơ thẩm số: 19/2022/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2022 c a Tòa án nh n d n huyện T bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 207/2021/QĐ-PT ngày 21 tháng 7 năm 2022; quyết định hoãn phiên tòa số: giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Ngọc T, sinh năm 1971.

HKTT: Số 790, ấp T, xã Tân Phú T, huyện T, t nh Đ ng Tháp.

Chỗ : 373/12 Nguyễn Đình C, phường 5, quận 3, T phố H Chí Minh.

Người đại diện theo y quyền: Mai Ngọc Đ, sinh năm 1970 (có mặt).

Địa ch : 234/7/7, Khóm Hòa Khánh, phường 2, T phố S, t nh Đ ng Tháp.

- Bị đơn: Trần Chánh N, sinh năm 1955.

Địa ch : Ấp T n Quới, xã T n Phú Trung, huyện T, t nh Đ ng Tháp.

Người đại diện theo y quyền: Phan Thị Bé Tư, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa ch : 374, N, khóm 4, phường 1, T phố S, t nh Đ ng Tháp.

Người bảo vệ quyền và L ích hợp pháp cho bị đơn: luật sư Lê Thị V n Lan - Văn phòng luật sư Lê Lan Tộc Đoàn luật sư t nh Đ ng Tháp (có mặt).

- Người có quyền L, nghĩa v liên quan:

1. Phạm Thị L, sinh năm 1954.

Địa ch : Ấp T n Quới, xã T n P, huyện T, Đ ng Tháp.

Người đại diện theo y quyền: Phan Thị Bé Tư, sinh năm 1985.

Địa ch : 374, Nguyễn Sinh Sắc, khóm 4, phường 1, T phố S, t nh Đ ng Tháp.

2. Trần Chánh T, sinh năm 1977.

Trần Chánh Tín y quyền Trần Chánh Lý sinh năm 1981; Địa ch : ấp Tân Hòa, xã T n Phú Trung, huyện T Đ ng Tháp (có mặt).

3. Trần Chánh T, sinh năm 1985 (có mặt).

4. Trần Ngọc N, sinh năm 1983.

Trần Ngọc Ngà y quyền cho Trần Chánh T, sinh năm 1979. Địa ch : ấp T n Hòa, xã T n Phú Trung, huyện T, t nh Đ ng Tháp (có mặt).

5. Mai Thị Ngọc D, sinh năm 1986.

Địa ch : Ấp T n Quới, xã T n Phú Trung, huyện T, Đ ng Tháp.

Mai Ngọc Diễm y quyền Trần Chánh Tư ng.

6. Trần Ngọc Q, sinh năm 1954;

Địa ch : Ấp Vĩnh Bình A, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, t nh Đ ng Tháp.

7. Trần Ngọc B, sinh năm 1961;

Địa ch : Số 507 ấp T n An, xã T n Bình, huyện T, Đ ng Tháp.

8. Trần Ngọc Á, sinh năm 1969 (có mặt);

9. Trần Ngọc L, sinh năm 1973;

Cùng địa ch : Ấp T n Quới, xã T n Phú Trung, huyện T, t nh Đ ng Tháp.

Ông Trần Ngọc Q, Trần Ngọc L, Trần Ngọc B cùng y quyền Mai Ngọc Đ.

10. Ủy ban nh n d n huyện T;

Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Minh Trung - Ch tịch UBND Huyện (có đơn vắng mặt);

Địa ch : Số 80, khóm Phú Mỹ, thị trấn Cái Tàu Hạ, huyện T, t nh Đ ng Tháp.

- Người kháng cáo: bà Trần Ngọc T là nguyên đơn; ông Trần Chánh N là bị đơn.

NỘI UN VỤ N:

- Nguyên đơn chị Trần Ngọc T trình bày: Lúc sinh thời cha là c Trần Chánh C (chết năm 1999) và mẹ c Lê Thị H (chết năm 1994). Khi cha mẹ qua đời đã đ lại 01 căn nhà 3 gian và phần diện tích đất vườn 4.681m2. Do cha mẹ không đ lại di chúc nên ngày 11/02/2004 tại nhà ông T tất cả 07 anh chị em g m Trần Chánh N, Trần Chánh T, Trần Ngọc B, Trần Ngọc A, Trần Ngọc Qúi, Trần Ngọc T và Trần Ngọc L làm văn bản thỏa Tận giao quyền sử d ng đất thửa 1309, 1920, 1311 cho Trần Ngọc T, đến ngày 16/3/2004 chị T được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận đối với phần đất trên. Hiện giấy chứng nhận quyền sử d ng đất giao cho chị Trần Ngọc L giữ, không có cầm cố, thế chấp.

Ngoài phần đất và nhà đang tranh chấp thì tất cả anh chị em trong gia đình đã được c Chất và c Hoạnh chia đất, trong đó chị T được chia 17.000m2 đất ruộng và 1.100m2 vườn, chị T đã được đứng tên giấy chứng nhận và cũng đã chuy n nhượng cho người khác xong; còn ông Trần Chánh N cũng được cha mẹ chia cho khoảng 30.000m2 đất vườn và ruộng…

Do chị T có ch ng năm 1997 và sinh sống trên T phố H Chí Minh từ đó cho đến nay, hàng năm ch về cúng ông bà, cha mẹ r i lại đi tiếp nên không quản lý nhà đất này. Vào năm 1999 ông Trần Chánh N và vợ con ông N đã tự ý dọn đến căn nhà và quản lý toàn bộ thửa đất trên, vì nghĩ anh em trong gia đình nên chị T đ gia đình ông N tiếp t c quản lý, không có tranh chấp trong thời gian đó, đến năm 2020 khi ông N xây thêm phần nhà phía sau thì chị T ngăn cản và gửi đơn đến xã giải quyết nhưng không T.

Nay chị Trần Ngọc T yêu cầu ông Trần Chánh N và các T viên trong gia đình ông N di dời toàn bộ c y tr ng, phần nhà phía sau đ trả lại căn nhà thờ và thửa đất 1309, 1920, 1311, tờ bản đ số 5, tổng diện tích 5.240,3m2 hiện do chị T đứng tên giấy chứng nhận. Phần đất tọa lạc ấp T n Quới, xã T n Phú Trung, huyện T, t nh Đ ng Tháp, chị T không đ ng ý hỗ trợ chi phí di dời.

Chị T cũng không đ ng ý việc ông Trần Chánh N yêu cầu T h i giấy chứng nhận đã cấp cho chị T đ công nhận quyền quản lý, sử d ng nhà và các thửa đất trên cho ông N.

- Bị đơn ông Trần Chánh N trình bày: Ngu n gốc đất và nhà đang tranh chấp là c a cha Trần Chánh Chất và mẹ là Lê Thị Hoạnh đ lại. Ông N trên đất từ lúc sinh ra đến năm 1977 thì vợ ch ng ông N về tại ấp T n Hòa đ tiện làm ruộng nhưng vẫn ra vào canh tác đất, lo cho c Chất, c Hoạnh vì trong gia đình ngoài ông ra, các anh chị em khác có ch ng, có vợ hoặc đi làm nên không ai quản lý, sử d ng đất này.

Đến năm 1997 do c Chất bệnh nên gia đình ông N đã về luôn trên phần đất tranh chấp đ lo cho c Chất và quản lý nhà, đất từ năm 1999 cho đến nay. Trong quá trình canh tác, gia đình ông đã tu bổ, cải tạo đất, sửa chữa nhà thờ phía trước và x y dựng thêm phần nhà phía sau kiên cố, còn Trần Ngọc T có ch ng và sinh sống trên T phố H Chí Minh nhiều năm nay. Từ khi c Chất, c Hoạnh qua đời thì việc thờ cúng đều do ông lo, còn các anh chị em khác ch về cúng xong r i đi.

Trước đó ngày 15/7/1974 cha mẹ đã làm tờ ph n chia đất cho các con trong gia đình và đã giao căn nhà, các thửa đất trên cho ông N đ thờ cúng ông bà.

Do nghĩ căn nhà và phần đất này cha mẹ đã cho, các anh em khác cũng được chia đất nên ông N không đi đăng ký quyền sử d ng đất.

Đến năm 2004 các anh em đến thăm ông T (em ruột), tại đ y chị Trần Ngọc T yêu cầu mọi người ký tên vào tờ gìn giữ đất và nhà, ông N có ký nhưng không đọc nội dung bên trong là gì, sau này mới phát hiện tờ giấy ông N ký tên là đ cho Trần Ngọc T đứng tên giấy chứng nhận.

Nay chị Trần Ngọc T yêu cầu ông N và các T viên trong gia đình ông N di dời tài sản trên đất đ trả lại căn nhà thờ và các thửa đất thì ông N không đ ng ý.

Đ ng thời ông N yêu cầu UBND Huyện T h i lại giấy chứng nhận cấp cho Trần Ngọc T đối với thửa đất số 1309, 1920, 1311, tờ bản đ số 5, tổng diện tích đo đạc thực tế là 5.240,3m2 đ công nhận quyền quản lý, sử d ng đất và căn nhà thờ cho ông N tiếp t c quản lý, sử d ng.

- Người có quyền L và nghĩa v liên quan g m Trần Ngọc L, Trần Ngọc Qúi, Trần Ngọc B, Trần Ngọc A trình bày: Các đương sự đều thống nhất theo lời trình bày c a chị T về ngu n gốc đất và nhà đang tranh chấp là c a c Chất, c Hoạnh đ lại. Trước đ y các anh chị em đều được cha mẹ chia đất, trong đó Trần Ngọc T và Trần Ngọc L mỗi người được chia 17.000m2 đất ruộng và 1.100m2 đất vườn; Trần Ngọc Qúi, Trần Ngọc B, Trần Ngọc A mỗi người được chia 14.500m2 đất ruộng; ông Trần Chánh T được chia 24.000m2 đất ruộng; ông Trần Chánh N được chia khoảng 30.000m2 đất vườn và ruộng. Còn ông Trần Chánh Kiến do qua Mỹ từ nhỏ nên không được chia đất.

Năm 2004 các anh em họp tại nhà anh Trần Chánh T đ ng ý ký tên giao quyền sử d ng đất và căn nhà thờ cho chị T đứng tên giấy chứng nhận. Hiện chị L đang quản lý giấy chứng nhận này, không có cầm cố, thế chấp cho ai.

Nay đối với căn nhà và thửa đất mà chị T đang yêu cầu Tòa án giải quyết thì chị L, chị Qúi, chị B, chị A không có tranh chấp và cũng không yêu cầu gì.

- Người có quyền L và nghĩa v liên quan bà Phạm Thị Là, anh Trần Chánh Tư ng trình bày: Bà Là, anh Tư ng thống nhất theo lời trình bày c a ông N, không đ ng ý theo yêu cầu đòi lại nhà và đất c a chị Trần Ngọc T vì nhà và đất này đã được c Chất, c Hoạnh cho ông N dùng vào việc thờ cúng, vợ ch ng bà Là đã bỏ công sức quản lý, cải tạo đất từ trước đến nay. Gia đình bà đang sinh sống tại nhà này, không còn nơi nào khác. Còn chị T có ch ng trên T phố H Chí Minh mấy ch c năm nay. Nên bà Là, anh Tư ng yêu cầu công nhận phần đất và nhà này cho ông N đ các T viên trong gia đình có nơi ổn định và T h i giấy chứng nhận quyền sử d ng đất đã cấp cho chị T đối với phần đất trên.

- UBND Huyện T có đơn xin vắng mặt.

3. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

Chấp nhận một phần yêu cầu c a chị Trần Ngọc T và chấp nhận một phần yêu cầu phản tố c a ông Trần Chánh N.

Công nhận cho các T viên gia đình ông Trần Chánh N g m: Trần Chánh N, bà Phạm Thị Là, anh Trần Chánh Tín, anh Trần Chánh Tư ng và chị Mai Thị Ngọc Diễm được quyền quản lý, sử d ng 01 căn nhà thờ và diện tích đất 5.240,3m2 Tộc các thửa 1309, 1311, 1920 cùng tờ bản đ số 5 (trong đó có 300m2 đất Tộc thửa 1309 và 4.920,3m2 đất c y l u năm Tộc thửa 1311, 1920). Phạm vi đất được xác định từ các mốc 1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10 tr về mốc 1 theo sơ đ đo đạc c a Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T và biên bản xem xét thẩm định, định giá tài sản ngày 08/7/2020.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm th t c đăng ký đ được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử d ng đất theo quy định c a pháp luật.

Ủy ban nh n d n Huyện T h i lại giấy chứng nhận quyền sử d ng đất đã cấp cho Trần Ngọc T đối với thửa 1309, 1920, 1311 đ cấp lại cho ông Trần Chánh N theo quy định.

Các T viên trong gia đình ông Trần Chánh N g m: Trần Chánh N, bà Phạm Thị Là, anh Trần Chánh Tín, anh Trần Chánh Tư ng và chị Mai Thị Ngọc Diễm phải liên đới thanh toán giá trị đất và nhà cho chị Trần Ngọc T với số tiền 708.127.000 đ ng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa v thi hành án, chi phí tố t ng, án phí, và tuyên về thời hạn kháng cáo.

4. Sau khi xét xử sơ thẩm các đương sự có kháng cáo như sau:

- Bà Trần Ngọc T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kh i kiện c a nguyên đơn và buộc hộ ông Trần Chánh N trả lại toàn bộ diện tích đất và tài sản đang tranh chấp.

- Ông Trần Chánh N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận cho hộ ông Trần Chánh N toàn bộ diện tích đất và tài sản đang tranh chấp.

5. Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện c a mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu Hội đ ng xét xử căn cứ vào tờ thỏa Tận năm 2004 đ buộc hộ ông Trần Chánh N giao lại toàn bộ nhà và đất cho chị Trần Ngọc T sử d ng.

- Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu c a mình và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cho rằng cấp sơ thẩm căn cứ vào tờ thỏa Tận 2004 đ cấp đất cho chị Trần Ngọc T là chưa hợp pháp. Đề nghị T h i giấy cấp cho chị T cấp lại cho ông Trần Chánh N.

- Luật sư bảo vệ quyền và L ích hợp pháp cho bị đơn phát bi u quan đi m: không đ ng ý với yêu cầu kh i kiện c a nguyên đơn, không đ ng ý trả giá trị đất và nhà cho Trần Ngọc T. Cấp sơ thẩm căn cứ vào tờ thỏa Tận 2004 đ cấp đất cho chị Trần Ngọc T mà chưa xem đến tờ Tận ph n c a cha mẹ năm 1974 là chưa đúng ý chí c a cha mẹ. Đ ng thời suốt quá trình sử d ng đất thì ông N là người sử d ng đất liên t c mà không xem xét đến. Đề nghị T h i giấy cấp cho chị T cấp lại cho ông Trần Chánh N.

- Đại diện Viện Ki m sát nh n d n T nh phát bi u ý kiến:

Về tố t ng: Người tiến hành tố t ng và người tham gia tố t ng đã thực hiện đúng quy định c a Bộ luật tố t ng d n sự trong quá trình giải quyết v án và tại phiên tòa phúc thẩm.

Về nội dung: Đề nghị hội đ ng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng công nhận căn nhà và diện tích đất cất nhà làm di sản chung c a các đ ng thừa kế giao cho ông Trần Chánh N quản lý; Trả lại cho bà Trần Ngọc T một phần diện tích đất cặp nhà chính; Công nhận cho ông Trần Chánh N phần diện tích đất còn lại và ông N có nghĩa v trả giá trị lại cho chị Trần Ngọc T.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được ki m tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

N ẬN ỊN CỦA TÒA N:

[1] Về tố t ng:

Căn cứ vào yêu cầu kh i kiện c a nguyên đơn với bị đơn về việc yêu cầu trả lại đất và tài sản gắn liền với đất, nên xác định quan hệ tranh chấp trong v án này là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn Trần Ngọc T và bị đơn Trần Chánh N không đ ng ý với quyết định c a bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T nh th lý giải quyết v án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 38 Bộ luật tố t ng d n sự.

[2] Về nội dung:

Xét ngu n gốc đất và nhà đang tranh chấp là c a c Trần Chánh Chất và c Lê Thị Hoạnh đ lại, việc này các đương sự đều thống nhất.

Các đương sự cũng xác định lúc sinh thời, c Chất và c Hoạnh đã chia đất đai cho các con xong, ch còn 03 thửa đất và căn nhà hiện gia đình ông N đang quản lý.

Theo tờ Tận ph n đất vườn và ruộng ngày 15/7/1974 thì c Chất, c Hoạnh chia đất cho từng người con, trong đó giao cho ông Trần Chánh N thửa đất và cái nhà ngói ba căn đ thờ ph ng ông bà và cha mẹ. Đ y là các thửa đất và nhà hiện đang tranh chấp. Các đương sự thừa nhận c Hoạnh và c Chất có làm Tờ Tận ph n này và khi c Chất và c Hoạnh chết không có văn bản nào khác thay đổi hoặc h y bỏ tờ Tận ph n ngày 15/7/1974.

Đến ngày 11/02/2004 các anh em ông N g m: Trần Chánh N, Trần Chánh T, Trần Ngọc Q, Trần Ngọc A, Trần Ngọc B, Trần Ngọc T, Trần Ngọc L (không có ông Trần Chánh Kiến) đã thỏa Tận lại giao 03 thửa đất 1309, 1920, 1311 cho chị Trần Ngọc T đứng tên giấy chứng nhận.

Việc thỏa Tận c a các đương sự về việc giao 03 thửa đất cho chị T đứng tên giấy chứng nhận là hợp pháp vì việc thỏa Tận có làm văn bản, có chứng thực tại UBND xã T n Phú Trung và được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận cho chị Trần Ngọc T đối với 03 thửa đất trên theo đúng quy định.

Theo văn bản thỏa Tận ngày 11/02/2004 có nội dung:“Nay chúng tôi thống nhất phân chia tài sản này cho: Họ tên Trần Ngọc T, sinh năm 1971… Được quyền sử dụng 4.681m2 gồm thửa số 1309, 1920, 1311 tờ bản đồ số 5. Lý do được quyền hưởng phần di sản và chịu thờ cúng; các anh em khác đã có phần chia. Chúng tôi cam kết: Ngoài những người khai trên đây, không còn ai khác Tộc hàng thừa kế thứ nhất. Chúng tôi làm thỏa Tận này là tự nguyện không hề ép buộc…”

Như vậy phần nhà gắn liền với đất theo ý nguyện c a c Hoạnh và c Chất là di sản thờ cung giao cho ông Trần Chánh N quản lý, còn phần đất thì theo thỏa Tận vào năm 2004 ông Trần Chánh N đã giao là cho Trần Ngọc T thừa hư ng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đều trình bày thống nhất căn nhà gắn liền với đất là di sản thờ cúng và ông N là người được cha mẹ giao căn nhà này nên tiếp t c giao cho ông N căn nhà gắn liền với đất làm nơi thờ cúng ông, bà.

Riêng đối với phần diện tích đất còn lại thì chị Trần Ngọc T cũng có yêu cầu sử d ng đất c a cha mẹ cho đ làm kỷ niệm do đó giao lại cho chị Trần Ngọc T một phần diện tích đất, phần còn lại giao cho hộ ông Trần Chánh N sử d ng và trả lại giá trị cho chị Trần Ngọc T.

Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/4/2022 và 08/8/2022 thì tổng diện tích đất thực đo là 5.240,3 m2 các bên được thừa hư ng như sau:

- Phần căn nhà và đất gắn liền với nhà có diện tích 331,8 m2 (trong đó có 81,0 m2 đất thổ thửa 1309 và 250,8 m2 đất c y l u năm thửa 1920) giao cho ông Trần Chánh N đứng tên làm nhà tổ thờ cúng theo các mốc 12, 13, 14, 26, 25, 17, 19, 20, 21, 22, 23, 12 (sơ đ đo đạc ngày 26/4/2022 và ngày 8/8/2022).

- Phần diện tích giao lại cho chị Trần Ngọc T có diện tích 377,8 m2 (trong đó có 219 m2 đất thổ thửa 1309 và 158,8 m2 đất c y l u năm thửa 1920) theo các mốc 8, 15, 16, 25, 26, 27 (sơ đ đo đạc ngày 8/8/2022).

- Phần diện tích đất còn lại ông Trần Chánh N được s hữu và trả giá trị lại cho chị Trần Ngọc T có diện tích:

+ Thừa 1920 có diện tích: 391,2 m2 c y l u năm tại các mốc 19, 20, 21, 22, 23, 12, 13, 14, 26, 27, 7,28 đến 19 (sơ đ đo đạc ngày 8/8/2022).

+ Thửa 1311 có diện tích 4.139,1 m2 theo các mốc 16, 9, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 28 về mốc 16 (sơ đ đo đạc ngày 8/8/2022).

Căn cứ vào biên bản định giá tài sản ngày 08/7/2020 thì hộ ông Trần Chánh N có nghĩa v trả lại cho chị Trần Ngọc T số tiền như sau: (4.530,3 m2 x 90.000 đ ng/m2) + 11.400.000 đ ng = 407.727.000 đ ng.

Về phần các ngôi mộ có trên đất, các đương sự thống nhất ai hư ng đất liên quan đến mộ cũng không di dời mà giữ y hiện trạng.

Về chi phía xem xét thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm các bên phải chịu theo quy định pháp luật.

Từ các ph n tích và nhận định nêu trên cho thấy yêu cầu kháng cáo c a chị Trần Ngọc T và ông Trần Chánh N là có căn cứ. Do đó, Hội đ ng xét xử sửa bản án d n sự sơ thẩm số 19/2021/DS-ST ngày 26/04/2021 c a Tòa án nh n d n huyện T.

Do chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo c a các đương sự nên các đương sự không phải chịu tiền án phí d n sự phúc thẩm.

Các phần còn lại c a bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Xét lời trình bày c a luật sư bảo vệ quyền và L ích hợp pháp cho ông Trần Chánh N là có căn cứ một phần nên chấp nhận một phần.

Xét lời trình bày và đề nghị c a đại diện Viện ki m sát t nh Đ ng Tháp là chưa phù hợp với các nhận định trên nên không xem xét.

Vì các l trên;

QUYẾT ỊN

Tuyên xử:

Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 38; Điều 148, khoản 2 điều 308 Bộ luật tố t ng d n sự năm 2015; Điều 48- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí tòa án;

- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo c a chị Trần Ngọc T và ông Trần Chánh N;

- Sửa bản án d n sự sơ thẩm số: 19/2021/DS-ST ngày 26/04/2021 c a Tòa án nhân dân huyện T;

[1] Chấp nhận yêu cầu kh i kiện c a chị Trần Ngọc T và chấp nhận một phần yêu cầu phản tố c a ông Trần Chánh N.

- Công nhận căn nhà và đất gắn liền với nhà có diện tích 331,8 m2 (trong đó có 81,0 m2 đất thổ thửa 1309 và 250,8 m2 đất c y l u năm thửa 1920) giao cho ông Trần Chánh N đứng tên làm nhà tổ thờ cúng theo các mốc 12, 13, 14, 26, 25, 17, 19, 20, 21, 22, 23, 12 (sơ đ đo đạc ngày 26/4/2022 và ngày 8/8/2022).

Công nhận cho các T viên gia đình ông Trần Chánh N g m: Trần Chánh N, bà Phạm Thị Là, anh Trần Chánh Tín, anh Trần Chánh Tư ng và chị Mai Thị Ngọc Diễm được quyền sử d ng diện tích như sau:

+ Thừa 1920 có diện tích: 391,2 m2 c y l u năm tại các mốc 19, 20, 21, 22, 23, 12, 13, 14, 26, 27, 7,28 đến 19 (sơ đ đo đạc ngày 8/8/2022).

+ Thửa 1311 có diện tích 4.139,1 m2 theo các mốc 16, 9, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 28 về mốc 16 (sơ đ đo đạc ngày 8/8/2022).

Hộ ông Trần Chánh N có nghĩa v giao lại cho chị Trần Ngọc T diện tích đất 377,8 m2 (trong đó có 219 m2 đất thổ thửa 1309 và 158,8 m2 đất c y l u năm thửa 1920) và c y cối có trên đất theo các mốc 8, 15, 16, 25, 26, 27 c a sơ đ đo đạc ngày 8/8/2022.

Hộ ông Trần Chánh N có nghĩa v di dời toàn bộ c y cối có trên đất theo biên bản thẩm định ngày 8/8/2022 g m: 10 c y bư i chưa cho trái; 10 c y sầu riêng mới tr ng; 04 c y mai vàng (kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08/8/2022).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm th t c đăng ký đ được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử d ng đất theo quy định c a pháp luật.

Ủy ban nh n d n Huyện T h i lại giấy chứng nhận quyền sử d ng đất đã cấp cho Trần Ngọc T đối với thửa 1309, 1920, 1311 đ cấp lại cho ông Trần Chánh N theo quy định.

[2] Các T viên trong gia đình ông Trần Chánh N g m: Trần Chánh N, bà Phạm Thị Là, anh Trần Chánh Tín, anh Trần Chánh Tư ng và chị Mai Thị Ngọc Diễm phải liên đới thanh toán giá trị đất và nhà cho chị Trần Ngọc T với số tiền 407.727.000 đ ng (Bốn trăm lẻ bảy triệu bảy trăm hai mươi bảy ngàn đ ng).

K từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền ch động ra quyết định thi hành án) hoặc k từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án c a người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi cho số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật d n sự.

[3] Về chi phí tố t ng:

- Chị Trần Ngọc T và ông Trần Chánh N mỗi người phải chịu 1/2 chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản và đo đạc là 3.886.000 đ ng. Do chị T đã tạm ứng trước nên ông N phải hoàn trả lại cho chị T số tiền 3.886.000 đ ng.

- Về chi thẩm định phúc thẩm định phúc thẩm: Chị Trần Thị Ngọc T phải chịu 800.000 đ ng (đã nộp xong). Hộ ông Trần Chánh N phải chịu 1.000.000 đ ng (Đã nộp xong).

[4] Về án phí: Các T viên trong gia đình ông Trần Chánh N liên đới chịu 20.309.000 đ ng án phí d n sự sơ thẩm (tương ứng mỗi người chịu 4.061.800 đ ng). Nhưng do ông N, bà Là đã hơn 60 tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên ông N, bà Là được miễn phần án phí mình phải chịu.

- Chị Trần Ngọc T được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.900.000 đ ng theo biên lai T số 0002770 ngày 09/6/2020 tại Chi c c Thi hành án d n sự huyện T.

[5] Về án phí phúc thẩm:

Chị Trần Ngọc T và ôngTrầnChánhNkhôngphảichịu ánphíd nsự phúcthẩm.

Các phần còn lại c a bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án d n sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ