vanban.org

Bản án 406/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 406/2018/ HNGĐ-ST
Ngày: 22- 10-2018
V/v: Tranh chấp, xin ly hôn
Giữa chị T với anh T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gốm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh

-Các Hôi thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Cư;

2. Bà Võ Thị Kim Linh.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Thị Mộng Thu- thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh- kiểm sát viên

Ngày 22 tháng10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2018/TLST – HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 393/ 2018/ QĐXXST- HNGĐ ngày 13/9/2018 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Hồng T, sinh năm 1978; địa chỉ cư trú: Tổ 4, khóm Long An B, phường Long Phú, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang ( có mặt);

2. Bị đơn: Anh Lê Quốc T, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Tổ 9, khóm Long Hưng, phường Long Châu, thị xã tân Châu, tỉnh An Giang (vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của chị Phan Thị Hồng T đề ngày 28/6/2018 và tại phiên tòa thể hiện như sau:

Về hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng T với anh Lê Quốc T yêu nhau được cha mẹ hai bên đồng ý và tổ chức lễ cưới vào năm 2013, sau đó anh chị đến UBND phường Long Phú đăng ký kết hôn trễ hạn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 83/2015, quyển số I/2015 ngày 26/8/2015. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống có hạnh phúc đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn giữa hai người càng ngày càng lớn, hai người sống ly thân kể từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không

1 còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn lại được, do đó chị T xin được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Theo chị T thì chị với anh T có một đứa con chung tên Lê Gia H, sinh ngày 30/7/2015 hiện đang sống với chị T, khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản và nợ chung: Theo chị T chị với anh T không có tài sản và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lê Quốc T được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến của mình.

Ý kiến phát biểu của đại diện viện kiểm sát: Về tố tụng Thẩm phán đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án, cho đến khi mở phiên tòa xét xử và tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đầy đủ, đúng theo trình tự thủ tục mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định; về nội dung, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ vụ án được công bố thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử ( sau đây gọi HĐXX) xét thấy:

[1]Vê áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án “tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

. Về áp dụng pháp luật nội dung: Sự kiện pháp lý xảy ra, theo đơn khởi của chị Phan Thị Hồng T đề ngày 28/6/2018 xin ly hôn với anh Lê Quốc T, hôn nhân chị T với anh T có đang ký kết hôn vào năm 2015 vì vậy cần áp dụng luật hôn nhân gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án.

Hôn nhân giữa chị T với anh T có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, theo biên bản xác minh ngày 06/9/2018 thì anh T có hộ khẩu thường trú tại tổ 7, khóm Long Hưng, phường Long Châu, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang anh T hiện vẫn có mặt ở địa phương, sống nghề tài sế xe sáng đi tối mới về địa phương. Nhưng anh T không đến Tòa án theo giấy triệu tập. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

. Về hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng T với anh Lê Quốc T yêu nhau được cha mẹ hai bên đồng ý và tổ chức lễ cưới vào năm 2013, sau đó anh chị đến UBND phường Long Phú đăng ký kết hôn trễ hạn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 83/2015,

2 quyển số I/2015 ngày 26/8/2015. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống có hạnh phúc đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn giữa hai người càng ngày càng lớn, hai người sống ly thân kể từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn lại được, do đó chị T xin được ly hôn với anh T.

Anh Lê Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản nêu ý kiến quan điểm của mình. Theo chị T trình bày phần trên thì tình cảm giữa hai người đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2015 và anh chị không còn sống chung cho đến nay. Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang thì bà Lê Thị C là mẹ ruột chị T cung cấp thông tin, “Sau khi cưới nhau thì Phan Thị Hồng T và Lê Quốc T về sống bên gia đình nhà T được ba năm. Chúng nó cưới nhau vào năm 2012 đến năm 2015 thì chúng nó xảy ra mâu thuẫn và T về ở với tôi cho đến nay tại tổ 4, khóm Long An B, phường Long Phú, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang” theo bà C thì Tòa án cho T với T được ly hôn nhau là hợp lý.

Như vậy, cho thấy tình cảm giữa chị T với anh T đã mâu thuẩn trầm trọng, vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị T xin ly hôn với anh T là hợp lý. Được HĐXX chấp nhận, nghĩ nên cho chị T ly hôn với anh T là phù hợp

. Về con chung: Theo chị T thì chị với anh T có một đứa con chung tên Lê Gia H, sinh ngày 30/7/2015 hiện đang sống với chị T, khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu này của chị T là hợp lý nên được HĐXX chấp nhận. Nên giao cháu Gia H cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng là hợp lý, chị T tự nguyện nuôi con mà không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con là phù hợp được HĐXX công nhận.

“ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; anh T có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng sấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”

. Về tài sản và nợ chung: Theo chị Phan Thị Hồng T trình bày thì chị với anh T không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó HĐXX không đặt ra để giải quyết trong bản án này. Sau này nếu anh T cho rằng giữa anh T với chị T có tài sản và nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì anh T vẫn có quyền khởi kiện chị T ra Tòa án để yêu cầu giải quyết trong vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Chị Phan Thị Hồng T là nguyên đơn, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại điểm a khoản 5 Điều 27 nghị Quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án thì chị Phan Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, chị T được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số

3 0004812 ngày 05/7/2018 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên.

QUYEÁT ÑÒNH:

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khỏan 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 4 Ñieàu 147; khoản 2 Điều 227, 228 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Điểm a khoản 5 Điều 27 nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Hồng T;

1.Về hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng T được ly hôn với anh Lê Quốc T.

2. Về con chung: Giao cháu tên Lê Gia H, sinh ngày 30/7/2015 cho chị Phan Thị Hồng T được tiếp tục nuôi dưỡng. Công nhận sự tự nguyện nuôi con của chị Phan Thị Hồng T mà không yêu cầu anh Lê Quốc T cấp dưỡng nuôi con.

“ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; anh T có quyền đến thăm nom con chung, không ai được cản trở; cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng sấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”

3. Về tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu giữa hai người có tranh chấp với nhau về tài sản và nợ trong thời gian chung sống thì anh Lê Quốc T vẫn có quyền khởi kiện chị Phan Thị Hồng T để yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án khác theo quy định của pháp luật;

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Phan Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng chị T được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0004812 ngày 05/7/2018 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị T có quyền kháng cáo. Riêng anh Lê Quốc T vắng mặt vẫn được quyền kháng cáo trong hạn trên kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án xử phúc thẩm.

4

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nôi nhaän:

Cỡ chữ