- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phi L và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 405/2025/HS-PT Ngày: 19-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: B Đo n Thị Hương Giang.
Các Thẩm phán:
1. Ông Lê Công Huân
2. Ông Nguyễn Văn Hậu
Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Th nh phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 261/TLPT-HS ngày 26 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Phi L do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 93/2025/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân Quận G (nay l To án nhân dân Khu vực 7), Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Phi L, sinh ngày 04 tháng 4 năm 1988 tại K; Thường trú: Tổ X, Khu phố 4, phường T, th nh phố B (nay thuộc xã T), tỉnh Đ; Nơi ở hiện tại: số Y đường Dương Đức Hiền, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú (nay thuộc phường Tây Thạnh), Th nh phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: nhân viên; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Nguyễn Văn M v b Bùi Thị D; Bị cáo có vợ tên Trần Thị Minh T và 01 con (sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại – Có mặt.
(Trong vụ án còn có bị hại ông Võ Trường L1 nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu tháng 6/2024, Nguyễn Phi L l nhân viên thử việc tại Công ty Trường Linh PU STUDIO tại địa chỉ X đường Quang Trung, Phường 14, quận G, Th nh phố Hồ Chí Minh do anh Võ Trường L1 l m chủ. Do bực tức vì Công ty không tuyển dụng L v o l m việc chính thức nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt t i sản của Công ty Trường Linh PU STUDIO. Đến ng y 01/6/2024, khi L đến Công ty l m việc thì phát hiện 01 thiết bị âm thanh UA Apollo Solo USB HE được dựng trong 01 thùng carton m u trắng đặt dưới s n h nh lang tầng 02 của Công ty nên nảy sinh ý định lấy trộm t i sản. Đến 17 giờ 35 phút ng y 01/6/2024 khi mọi người trong công ty đã ra về, L lấy thiết bị âm thanh trên bỏ v o balo, đi bộ xuống lầu v lấy xe máy ra về. Khi về nh tại địa chỉ số 72/34 đường Dương Đức Hiền, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, Th nh phố Hồ Chí Minh, L cất giấu t i sản trộm cắp được trên đầu tủ lạnh. Đến ng y 10/6/2024, L được Công ty truyền thông Tây Đô tại địa chỉ Y đường Lê Trọng Tấn, phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú, Th nh phố Hồ Chí Minh nhận l m việc chính thức nên L mang thiết bị âm thanh trên từ nh đến Công ty Tây Đô v cất giấu v o ngăn kéo đến khi bị bắt. Kết luận định giá t i sản số 184/KL-HĐĐGTS ng y 13/9/2024 của Hội đồng định giá t i sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận G kết luận : 01 (một) thiết bị âm thanh (cạc âm thanh) UA Apollo Solo USB HE, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ng y 01/6/2024 trị giá 7.966.667 đồng. Cơ quan điều tra Công an quận G đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với bị cáo Nguyễn Phi L. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận G, Nguyễn Phi L khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội như đã nêu trên, mục đích L lấy trộm 01 thiết bị âm thanh của anh Trường L1 l do bực tức vì Công ty Trường Linh không tuyển dụng L (l nhân viên thử việc) v o l m việc chính thức. L thực hiện h nh vi trộm cắp một mình, không có ai hỗ trợ, giúp sức. Anh Trường L1 khai nội dung phù hợp với lời khai của L. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 93/2025/HS-ST ngày 28-04-2025 của Tòa án nhân dân Quận G, Th nh phố Hồ Chí Minh đã căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Phi L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y bắt bị cáo chấp h nh án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn giải quyết về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo v những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/05/2025, bị cáo Nguyễn Phi L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Phi L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên. Đồng thời thừa nhận to n bộ diễn biến h nh vi chiếm đoạt thiết bị âm thanh của bị hại Võ Trường L1, chỉ xin xem xét giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo để chăm sóc gia đình vì gia đình có ho n cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính, mẹ đã gi cần được nuôi dưỡng, vợ thất nghiệp, không có thu nhập ổn định, con còn nhỏ sắp v o lớp 1, bản thân bị cáo mắc bệnh HIV v đang trong quá trình điều trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Th nh phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả h nh vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo l có căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin hưởng án treo của bị cáo, nhận thấy mức hình phạt của cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo l phù hợp. Mặc dù, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp tình tiết mới l lao động chính trong gia đình, bản thân đang điều trị ARV, tuy nhiên xét mức hình phạt m cấp sơ thẩm đã áp dụng nằm ở đầu khung hình phạt nên đề nghị không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo v giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo tự b o chữa: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự; có công việc ổn định v có nơi cư trú rõ r ng; th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực liên hệ với bị hại L1 để bồi thường thiệt hại nhưng không được bị hại L1 chấp nhận; hiện ho n cảnh bị cáo khó khăn, có mẹ gi trên 80 tuổi, con gái v o lớp 1, vợ thất nghiệp, bị cáo l lao động chính nuôi gia đình, chuẩn bị nhập học tại trường cao đẳng Lý Tự Trọng. Bị cáo xin được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc xin hưởng án treo để tiếp tục lao động, học tập bên ngo i, chăm lo cho gia đình.
Các bên còn đưa ra một số quan điểm đối đáp, tranh tụng nhưng kết thúc phần tranh luận đều bảo lưu quan điểm như đã trình b y.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ để tiếp tục đi l m nuôi gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phi L về nội dung quyền kháng cáo v thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm. [2] Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận G, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân quận G, Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, các h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [3] Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Phi L tại phiên tòa phúc thẩm, cùng các t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: [3.1] Nguyễn Phi L l nhân viên thử việc của Công ty Trường Linh PU Studio. Do bực tức về việc anh Võ Trường L1 (giám đốc Công ty) không tuyển dụng L v o vị trí nhân viên chính thức nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt t i sản của L2. Theo đó, vào ngày 01/6/2024, sau khi các nhân viên khác của công ty tan l m v ra về thì L lợi dụng vị trí công việc của mình, để tiếp cận v lén lút thực hiện h nh vi chiếm đoạt 01 thiết bị âm thanh (cạc âm thanh) nhãn hiệu UA Apollo Solo USB HE, bỏ v o balo, rồi đi bộ xuống lầu v lấy xe máy ra về, sau đó L giấu t i sản trộm cắp được tại nh v nơi l m việc mới (Công ty truyền thông Tây Đô) cho đến khi bị phát hiện. Trị giá t i sản chiếm đoạt qua định giá là 7.966.667 đồng. [3.2] Với diễn biến của h nh vi khách quan v hậu quả tội phạm nêu trên thì Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2025/HS-ST ngày 28-04-2025 của Tòa án nhân dân Quận G, Th nh phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo Nguyễn Phi L về tội “Trộm cắp t i sản” l có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai. [4] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Phi L, Hội đồng xét xử xét thấy: [4.1] Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo cung cấp t i liệu thể hiện gia đình ho n cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương và phiếu thông tin bệnh nhân thể hiện bị cáo đang điều trị ARV. Xét đây là các tình tiết giảm nhẹ mới được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm ghi nhận áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy mức hình phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp t i sản” m cấp sơ thẩm tuyên phạt đã phù hợp với tính chất, mức độ h nh vi, hậu quả tội phạm m bị cáo thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự v thân thân của bị cáo.
Đối với nội dung kháng cáo xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét, bản thân bị cáo l người lao động l m việc tại Công ty Trường Linh PU Studio theo hợp đồng thử việc đã ký với ông Nguyễn Trường L1, nhưng lại lợi dụng chính vị trí công việc của mình để tiếp cận, chiếm đoạt t i sản của người sử dụng lao động. Tại thời điểm thực hiện phạm tội, bị cáo biết rõ nơi l m việc có camera giám sát an ninh nhưng vẫn cố tình thực hiện h nh vi phạm tội l thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Sau khi chiếm đoạt t i sản, mặc dù đã được phía bị hại L1 yêu cầu trả lại t i sản nhưng bị cáo không thừa nhận h nh vi phạm tội, tiếp tục chiếm giữ t i sản trộm cắp v có lời lẽ thách thức bị hại L1 là thể hiện ý chí thực hiện tội phạm đến cùng nên việc cho bị cáo hưởng án treo không đảm bảo yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm v điều kiện cho hưởng án treo quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ng y 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tóa án nhân dân tối cao.
Từ những lập luận nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phi L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự v Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phi L và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi L 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp t i sản” Thời hạn tù tính từ ng y bắt bị cáo chấp h nh án. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ng n) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND KV7; (2) - P.V06 - CATP; (1) - Bị cáo; (2) - THADS KV7; (1) - TAND KV7; (2) - Công an TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hương Giang |