vanban.org

Bản án 405/2023/DS-ST — Dân sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm g khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 228; các Điều 147; 164; 266; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực T, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "mua bán tài sản"
  • Tòa quyết gì? điểm g khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 228; các Điều 147; 164; 266; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 405/2023/DS-ST
Ngày: 28-9-2023
V/v Tranh chấp hợp đồng
mua bán điện

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Tố Nhân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Phương Thúy

2. Bà Đoàn Thị Thỉnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7,

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên toà: Bà Trần Thị Minh Tú - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố

Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 227/2023/TLST-DS ngày 19

tháng 4 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán điện” theo Quyết định đưa

vụ án ra xét xử số: 383/2023/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2023 và Quyết

định hoãn phiên tòa số: 277/2023/QĐST-DS ngày 07 tháng 9 năm 2023 giữa các

đương sự:

Nguyên đơn: Tổng Công ty Điện lực T; Địa chỉ: Số i đường t, phường B, Quận

u, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Khắc Q, sinh năm 1980 (có yêu cầu xét

xử vắng mặt); Địa chỉ: Số u đường l, Phường i, Quận j, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Bà Bùi Thị Cẩm N, sinh năm 1978 (vắng mặt); Địa chỉ sử dụng điện:

Số y đường l, phường t, Quận p Thành phố Hồ Chí Minh

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Công C, sinh năm 1973

(vắng mặt); Địa chỉ thường trú: Số 11, đường Thủ Khoa Huân, phường Bến Thành,

Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/10/2022 của nguyên đơn Chi nhánh Tổng Công

ty Điện lực T – Công ty Điện lực T (gọi tắt là công ty Điện lực) thì: Ngày 05 tháng

06 năm 2016 công ty Điện lực ký hợp đồng số 16/038528 về việc mua bán điện với

bà Bùi Thị Cẩm N (bà Nhung) tại địa chỉ sử dụng điện. Thực hiện hợp đồng bà

Nthanh toán đầy đủ và đúng hạn tiền sử dụng điện hàng tháng. Tuy nhiên, từ tháng

10 năm 2019 đến nay bà Nkhông thanh toán đúng hạn theo hợp đồng đã ký. Số tiền

bà Nnợ quá kỳ hạn thanh toán 02 hóa đơn như sau: Hóa đơn số 431837090 sử dụng điện từ 04/9/2019 đến 03/10/2019 với số tiền 5.256.343 đồng. Hóa đơn số 434570990 sử dụng điện từ 04/10/2019 đến 03/11/2019 với số tiền 23.995 đồng. Tổng số tiền nợ là 5.280.338 đồng. Do đó công ty Điện lực có thông báo ngày 18/11/2019 ngừng cung cấp điện tại địa chỉ sử dụng điện theo hợp đồng mua bán điện, nhưng đến nay bà Nvẫn chưa thanh toán. Nay công ty Điện lực khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nphải thanh toán số tiền sử dụng điện còn nợ là 5.280.338 đồng cho công ty Điện lực.

Bà Bùi Thị Cẩm N và ông Trần Công C vắng mặt trong quá trình tố tụng nên

không có lời khai. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện nguyên đơn có Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

1. Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện

đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thời hạn chuẩn bị xét xử, đúng thời hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người đại

diện theo ủy quyền của nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71, 85, 86 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn. Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ đơn khởi

kiện của nguyên đơn công ty Điện lực yêu cầu bị đơn bà Ntrả số tiền còn nợ trong hợp đồng mua bán điện, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “tranh chấp hợp đồng dân sự” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn bà Bùi Thị Cẩm N sử dụng điện tại Quận 7 nên nhưng nguyên đơn lựa chọn nơi thực hiện hợp đồng để khởi kiện là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét xử vắng mặt các đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên

đơn là ông Lê Khắc Quy có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện của nguyên đơn.

Bà Bùi Thị Cẩm N và ông Trần Công C mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ

nhưng vẫn vắng mặt. Theo trả lời xác minh của Công an phường Tân Phong, Quận 7

thì đương sự Bùi Thị Cẩm N, sinh năm 1978, hiện không thực tế cư trú tại địa chỉ

thửa đất số 609 đường Lê Văn Lương, phường Tân Phong, Quận 7, không xác định

được nơi ở hiện nay.

Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và theo

hướng dẫn tại Điều 5 và 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì,… trường hợp người khởi kiện đã

ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện nhưng họ thường xuyên thay đổi mà

không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của

pháp luật về nơi cư trú làm cho người khởi kiện không biết nhằm mục đích che giấu

địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ với người khởi kiện… thì Tòa án giải quyết theo thủ tục

chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn

bản tố tụng gồm Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp,

tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định

hoãn phiên tòa cho bà Nvà ông Chánh, nhưng bà Nvà ông Chánh vẫn vắng mặt,

không ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng, nên Hội đồng xét xử căn cứ

vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các

đương sự.

Về nội dung tranh chấp:

Ngày 12 tháng 7 năm 2017 công ty Điện lực và bà Nký hợp đồng mua bán điện

số 16/038528, có cơ sở để xác định hai bên đương sự có xác lập một giao dịch dân

sự về mua bán tài sản, hợp đồng được lập thành văn bản có chữ ký của bên mua và

bên bán là phù hợp theo quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Ncó sử dụng điện của công ty Điện lực, quá trình

sử dụng điện, bà Ncó thanh toán đủ tiền sử dụng điện, tuy nhiên còn nợ 02 kỳ thanh

toán của tháng 9 và tháng 10 năm 2019 từ ngày 04/9/2019 đến 03/10/2019, và từ

ngày 04/10/2019 đến ngày 03/11/2019 với số tiền 5.280.338 đồng, đến nay vẫn chưa

thanh toán cho công ty Điện lực.

Theo khoản 1 Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về “nghĩa vụ trả

tiền” thì: Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền

được quy định trong hợp đồng”. Công ty Điện lực đã chuyển giao điện theo đúng

quy định tại khoản 1 Điều 434 Bộ luật dân sự năm 2015, bà Nđã sử dụng điện nên

phải có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán. Mặc dù quá trình sử dụng bà Nđã thanh

toán đầy đủ nhưng vẫn còn nợ 02 kỳ chưa thanh toán với số tiền 5.280.338 đồng, do

đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán là có cơ sở để

Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu

khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị

đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và theo

quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, với số tiền án phí là 3.000.000

đồng.

Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

điểm g khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 228; các Điều 147; 164; 266; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 430, 434, 440 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Luật phí và Lệ phí;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực T,

buộc bị đơn bà Bùi Thị Cẩm N có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tiền sử dụng điện còn nợ là 5.280.338 đồng (năm triệu hai trăm tám mươi ngàn ba trăm ba mươi tám đồng). Hai bên đương sự thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu

cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[2] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), bà

Bùi Thị Cẩm N phải chịu.

Trả lại cho Tổng Công ty Điện lực T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000

đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0015856 ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản

án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ