- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Lê Thị Bé H - Lê Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bé H.
- Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 404/2025/DS-PT Ngày 19- 9 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Nguyệt
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Anh Tuấn
Ông Đỗ Cao Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 297/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 8 năm 2025 về “tranh chấp hợp đồng hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 162/2025/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 346/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Bé H, sinh năm 1982 (Có mặt)
Căn cước công dân số: 09618201****, cấp ngày 09/8/2021.
Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, tỉnh Cà Mau (Địa chỉ trước đây: Ấp P, xã N,
huyện Đ, tỉnh Cà Mau).
Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1977 (Có mặt)
Căn cước công dân số: 09607700****, cấp ngày 16/9/2021.
Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, tỉnh Cà Mau (Địa chỉ trước đây: Ấp P, xã N,
huyện Đ, tỉnh Cà Mau).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Minh T; Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, tỉnh Cà Mau (Địa chỉ trước đây: Ấp P, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau) (Vắng mặt)
2. Anh Diệp Trung K, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
3. Chị Lê Mỹ Ả, sinh năm 1984. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, tỉnh Cà Mau (Địa chỉ trước đây: Ấp P, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau).
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Lê Thị Bé H trình bày: Chị Lê Mỹ Ả và anh Diệp Trung K có mở hụi, chị Lê Thị Bé H có tham gia. Vợ chồng anh Kiên, chị Ảnh có nợ chị Bé Hai nhiều dây hụi nên có thoả thuận dùng các dây hụi khác để đối trừ. Cụ thể dây hụi mở ngày 15/01/2021 hụi 3.000.000 đồng, tổng 53 chưng, chị Bé Hai tham gia 01 chưng, góp hụi 09 lần thì anh Kiên, chị Ảnh đình hụi. Đầu năm 2022, chị Bé Hai và chị Lê Mỹ Ả và anh Diệp Trung K, ông Lê Văn H có gặp nhau để thoả thuận thống nhất đối trừ dây hụi nêu trên có ông H tham gia 03 chưng, trong đó ông H có tham gia giùm cho ông Võ Minh T 01 chưng, thoả thuận giao 43 kỳ hụi chết còn lại cho ông H phải đóng hụi cho chị Bé Hai số tiền 129.000.000 đồng. Ông H đóng cho chị Bé Hai một kỳ hụi thì bàn giao lại cho ông T đóng được 05 kỳ thì ngưng. Nay chị Bé Hai yêu cầu ông H phải trả cho chị Bé Hai số tiền hụi là 111.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Lê Văn H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Minh T: Không có ý kiến trong vụ án.
- Anh Diệp Trung K và chị Lê Mỹ Ả trình bày: Vào ngày 15/01/2021 anh Diệp Trung K và chị Lê Mỹ Ả có mở dây hụi 3.000.000 đồng, tổng 53 chưng, chị Bé Hai có tham gia 01 chưng - hụi còn sống, ông H tham gia 03 chưng – hụi đã chết. Hụi khui được 09 kỳ, đến kỳ thứ 10 thì anh Kiên, chị Ảnh đình hụi. Sau khi đình hụi anh chị có họp hụi viên lại thoả thuận ông H đóng hụi cho chị Bé Hai 43 kỳ, ông H có viết xác nhận gặt hụi ngày 19/01/2022. Nay anh Kiên và chị Ảnh không kiện đòi ông H đóng 43 kỳ hụi chết này mà anh chị đồng ý giao cho chị Bé Hai kiện 43 kỳ hụi này tương ứng số tiền 129.000.000 đồng vì khi đình hụi thì các bên gồm vợ chồng anh Kiên, chị Ảnh, ông H, chị Bé Hai thống nhất ông H phải đóng hụi chết cho chị Bé Hai. Vì đi làm xa nên anh chị xin vắng mặt.
Từ nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 162/2025/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau) đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bé H. Buộc ông Lê Văn H phải trả cho chị Lê Thị Bé H tổng số tiền hụi là 111.000.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ngày 14 tháng 7 năm 2025, bị đơn ông Lê Văn H kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Bé H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Quan điểm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 162/2025/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Lê Thị Bé H khởi kiện Lê Văn H yêu cầu trả tiền nợ hụi nên đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng hụi theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông H cư trú tại huyện Đ, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4-Cà Mau) thụ lý giải quyết vụ án là đúng quan hệ tranh chấp và đúng thẩm quyền.
Ngày 25/6/2025, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau) xét xử sơ thẩm, ông H vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, bản án được niêm yết công khai ngày 09/7/2025, không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 14/7/2025 bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn quy định, đã nộp tạm ứng án phí đúng quy định. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau thụ lý và giải quyết theo trình tự phúc thẩm là đúng thẩm quyền.
Về thời hiệu khởi kiện: Do suốt quá trình giải quyết vụ án trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, các bên đương sự đều không yêu cầu áp dụng thời hiệu nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện là phù hợp.
Về nội dung: Xét quan hệ tranh chấp nợ hụi: Chị Lê Thị Bé H, anh Diệp Trung K và chị Lê Mỹ Ả thống nhất xác định giữa chị Bé Hai, anh Kiên và chị Ảnh có giao dịch hụi với nhau, chị Bé Hai là người tham gia chơi hụi, chị Ảnh và anh Kiên là chủ hụi. Chị Bé Hai có tham gia 01 chưng hụi 3.000.000 đồng mở ngày 15/01/2021, tổng số 53 chưng do anh Kiên và chị Ảnh là chủ hụi, chị Bé Hai đóng hụi được 09 kỳ đến kỳ khui hụi thứ 10 thì anh Kiên, chị Ảnh đình hụi. Ngày 03/12/2021 chị Bé Hai, anh Kiên và chị Ảnh đồng ý thỏa thuận cho những hụi viên đã hốt hụi (hụi chết) đóng hụi cho những hụi viên chưa hốt hụi (hụi sống), theo đó đồng ý để cho chị Bé Hai nhận tiền đóng hụi do ông Lê Văn H đóng cho chị Bé Hai 43 kỳ. Đây là các tình tiết, sự kiện được chị Bé Hai, anh Kiên và chị Ảnh thống nhất thừa nhận nên đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Bé Hai thừa nhận sau khi thỏa thuận, ông H và ông T đã thanh toán tiền nợ hụi cho chị đúng thỏa thuận, ông T đã đóng 05 kỳ, ông H đã đóng 01 kỳ nên nay chị Bé Hai yêu cầu ông H thực hiện tiếp 37 kỳ tương ứng số tiền 111.000.000 đồng.
Xét chứng cứ do nguyên đơn chị Bé Hai cung cấp là Đơn xác nhận gặt hụi ngày 19/01/2022, nội dung đơn thể hiện ông Lê Văn H đồng ý “…còn phải đóng lại 43 kỳ, hàng tháng là 3 triệu đồng 1 kỳ…. tôi phải đóng lại số tiền kể trên cho chị Bé Hai…” (BL 01). Ngoài ra, trong quá trình tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm, chị Bé Hai và anh Kiên, chị Ảnh đã trình bày phù hợp với nhau về loại hụi, tổng số chưng hụi tham gia, thời gian đình hụi, số tiền chốt nợ hụi và việc “gặt hụi” chuyển giao nghĩa vụ thanh toán nợ hụi của chị Ảnh, anh Kiên sang cho ông Lê Văn H, ông H có nghĩa vụ phải trả cho chị Bé Hai số tiền nợ hụi là 43 kỳ hụi chết, mỗi kỳ 3.000.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bé Hai, ghi nhận ý kiến của chị Bé Hai về việc đã nhận được 06 kỳ hụi nên buộc ông H tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho chị Bé Hai 37 kỳ tương ứng số tiền 111.000.000 đồng là có căn cứ, đã xem xét đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện, đúng quy định pháp luật.
Xét thấy, ông H kháng cáo không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của chị Bé Hai nhưng ông không có chứng cứ chứng minh cho ý kiến của ông. Ông H thừa nhận việc “gặt hụi” chuyển giao nghĩa vụ thanh toán nợ hụi của chị Ảnh, anh Kiên sang cho ông Lê Văn H đúng như các đương sự trình bày. Ông H cho rằng do ông tham gia chơi hụi dùm cho ông T nên nghĩa vụ trả nợ là của ông T. Xét thấy, trên danh sách chơi hụi thể hiện người chơi hụi ông Lê Văn H có tham gia chơi 03 chưng, tại phiên tòa, ông H thừa nhận việc ông chơi hụi dùm cho ông T chỉ là thỏa thuận bằng miệng giữa ông và ông T, không có văn bản ghi nhận. Mặt khác, tại Đơn xác nhận gặt hụi ngày 19/01/2022, ông H tự nguyện sẽ trả cho chị Bé Hai 43 kỳ hụi chết, không đặt vấn đề chơi hụi dùm cho ông T và không ràng buộc trách nhiệm của ông T tại văn bản này. Do đó, nếu có tranh chấp về việc trả nợ thay giữa ông H với ông T thì ông H có quyền khởi kiện ông T để yêu cầu hoàn trả số tiền ông đã thanh toán thay ở một vụ kiện khác theo trình tự tố tụng dân sự. Ngoài ra, bị đơn không cung cấp thêm chứng cứ khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bị đơn nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 162/2025/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau), như đã phân tích trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo của ông H nên ông H phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 162/2025/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau).
Căn cứ khoản 3 Điều 26; các Điều 35, 39; khoản 2 Điều 92; Điều 147; điểm b khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ – CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị định số 19/2019/NĐ – CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 4 Điều 26; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bé H.
2. Buộc ông Lê Văn H phải trả cho chị Lê Thị Bé H tổng số tiền hụi là 111.000.000 đồng (Một trăm mười một triệu đồng)
Kể từ ngày chị Lê Thị Bé H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Lê Văn H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Ông Lê Văn H phải chịu 5.550.000 đồng.
Chị Lê Thị Bé H không phải chịu. Hoàn trả lại cho chị Lê Thị Bé H số tiền đã nộp tạm ứng là 2.775.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001062 ngày 29/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 – Cà Mau), tỉnh Cà Mau.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Lê Văn H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), ông H đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số 0011838 ngày 14/7/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí toàn bộ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa PT TATC tại Tp. HCM (01 bản); - VKSND tỉnh Cà Mau (01 bản); - TAND Khu vực 4 – Cà Mau (01 bản); - Phòng THADS Khu vực 4 – Cà Mau (01 bản); - Các đương sự; - Lưu HS, Tổ HCTP (01 bản). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Minh Nguyệt |