vanban.org

Bản án 404/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lý Thị H.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Hồng N và ông Nguyễn Việt Đ có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn bà Lý Thị H tổng số tiền nợ hụi và nợ vay là 228.000.000 đồng. Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền nói trên, thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà H yêu cầu ông Đ và bà N thanh toán tiền nợ hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lý Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 404/2023/DS-ST
Ngày 25 - 10 - 2023
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản và hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Kim Lên.

Ông Bùi Xuân Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Trần H Cẩm – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 619/2023/TLST-DS ngày 27/7/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 437/2023/QĐXXST-DS ngày 12/9/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lý Thị H, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn H N.

Ông Nguyễn Việt Đ.

Cùng địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Nguyên đơn có mặt. Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 25/7/2023 của nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên tòa, thể hiện:

Trong năm 2019 vợ cH bị đơn có làm chủ 04 dây hụi loại hụi 1.000.000 đồng và 03 dây hụi loại 2.000.000 đồng, nguyên đơn tham gia chơi mỗi dây 01 chưng, quá trình khui hụi thì đình hụi, sau đó chốt nợ vợ cH bị đơn nợ nguyên đơn tổng số tiền hụi 148.000.000 đồng có làm biên nhận ngày 12/11/2021 âm lịch, kể từ khi chốt nợ không có khoản tiền nào. Năm 2020 nguyên đơn có cho vợ cH bị đơn vay 04 lần tiền, mỗi lần 20.000.000 đồng, lãi suất thoả thuận 5%/tháng, việc vay tiền có làm biên nhận ngày 24/4/2020 do ông Nguyễn Việt Đ viết, quá trình vay không có trả vốn, có trả lãi nhưng không đầy đủ và không nhớ bao nhiêu (chỉ trả lãi đối với khoản nợ vay 40.000.000 đồng đầu tiền).

Nay bà H yêu cầu vợ cH bị đơn có trách nhiệm liên đới trả tổng số tiền 228.000.000 đồng.

- Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử, nhưng đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Lời khai của bà Ngô Thị X tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 16/8/2023, thể hiện: Bà X có tham gia chơi hụi chung với bà Lý Thị H, chơi hụi do vợ cH bà N và ông Đ làm chủ. Quá trình khui hụi thì đình hụi. Sau khi đình hụi thì có nghe bà N nói vợ cH có nợ bà H tổng số tiền hụi và tiền vay hơn 200.000.000 đồng và có làm biên nhận cho bà H. Số nợ này theo bà X biết hiện nay chưa trả.

- Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:

Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tiến hành và thực hiện đúng theo quy định. Đối với bị đơn đã không chấp hành đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền hụi và vay 228.000.000 đồng. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về thủ tục: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn xác định bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ vay và nợ hụi, nên thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ vay và nợ hụi; bị đơn có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 471 Bộ luật dân sự.

Về pháp luật áp dụng: Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự hiện hành và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết để giải quyết là phù hợp.

Về nội dung tranh chấp và xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ tại các bút lục 03 đến 04, gồm: “Biên nhận ngày 12/11/2021 âm lịch – có tên và chữ ký của Nguyễn H N; biên nhận ngày 24/4/2020 âm lịch – có tên và chữ ký của Nguyễn H N”. Qua xem xét các nội dung tại các biên nhận, lời khai của người làm chứng và đối chiếu với lời trình bày của nguyên đơn thì xác định được thực tế vợ cH bị đơn có tiền nợ vay và nợ hụi của nguyên đơn và có chốt nợ tại các biên nhận với tổng số tiền 228.000.000 đồng là đúng. Hội đồng xét xử xét thấy trong suốt quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo và văn bản tố tụng cho bị đơn biết được việc nguyên đơn khởi kiện và nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối hay cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh việc đã thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho nguyên đơn. Như vậy, có căn cứ xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền nợ vay và nợ hụi 228.000.000 đồng chưa thanh toán.

Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nợ vay và nợ hụi theo thỏa thuận giữa các bên và nghĩa vụ của bị đơn phát sinh từ giao dịch của vợ cH cùng xác lập, nên cần buộc bị đơn phải có trách nhiệm liên đới cho nguyên đơn tổng số tiền 228.000.000 đồng là đúng theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 471 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 11, khoản 2 Điều 15, Điều 18, Điều 20, Điều 21, khoản 1 Điều 22, Điều 23 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Đối với số tiền lãi, nguyên đơn thừa nhận bị đơn có đóng, nhưng không xác định được là bao nhiêu. Các đương sự không có yêu cầu gì đối với phần tiền lãi trong vụ án, nên không có căn cứ để xem xét, do đó cần tách ra khi nào khác đương sự có tranh chấp và có yêu cầu thì sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

Từ những lập luận, phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận và có đầy đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ vay và nợ hụi nêu trên.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch là 5% trên tổng số tiền theo yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí, nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 471 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 11, khoản 2 Điều 15, Điều 18, Điều 20, Điều 21, khoản 1 Điều 22, Điều 23 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

1. Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lý Thị H.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Hồng N và ông Nguyễn Việt Đ có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn bà Lý Thị H tổng số tiền nợ hụi và nợ vay là 228.000.000 đồng.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền nói trên, thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Án phí sơ thẩm dân sự có giá ngạch:

- Buộc bị đơn bà Nguyễn Hồng N và ông Nguyễn Việt Đ phải nộp là 11.400.000 đồng (Chưa nộp).

- Nguyên đơn bà Lý Thị H thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ