vanban.org

Bản án 403/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 22/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Mai Quốc D và giữ nguyên bản án s thẩm; Tuyên bố b cáo Mai Quốc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Quốc D - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 403/2022/HS-PT
Ngày: 22/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Phước Thanh

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Tấn Hoàng

Ông Lê Tự

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tấn Ánh - Kiểm sát viên.

Vào ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến để xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 217/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 6 năm 2022 đối với b cáo Mai Quốc D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 18/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Bị cáo có kháng cáo

Mai Quốc D (Mai Nguyễn Hoàng V), sinh năm 1980, tại Khánh Hòa; n i cư trú: tỉnh Khánh Hòa; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nguyên giám đốc công ty TNHH P - N; trình độ học vấn 12/12; con ông Mai Kim (1951) và bà Nguyễn Th Mỹ Hòa (1954);

Tiền án: Bản án số 101/2010/HSPT ngày 17/6/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt b cáo 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bản án số 21/2011/HSST ngày 28/7/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt b cáo 09 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ”; tổng hợp hình phạt buộc b cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 09 năm 9 tháng tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù lần đầu ngày 28/5/2013, đã chấp hành án tính đến ngày 13/10/2017 là 02 năm 10 tháng 24 ngày; tiền sự: Không. B cáo b tạm giam từ ngày 23/9/2021- Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Ngọc N - Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư H - KBC, Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986; n i cư trú: Khánh Hòa-Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. Bà Nguyễn Th T, sinh năm 1989; n i cư trú: Khánh Hòa- Vắng mặt.

2. Ông Trần Trung H, sinh năm 1990; n i cư trú: N, Khánh Hòa- Xin xét xử vắng mặt.

3. Bà Nguyễn Th Ngọc C, sinh năm 1983; n i cư trú: N, Khánh Hòa-vắng mặt.

4. Bà Kiều Th Thanh T, sinh năm 1963; n i cư trú: N, Khánh Hòa- Có mặt.

5. Bà Bùi Th Xuân P, sinh năm 1971; n i cư trú: N, Khánh Hòa- Xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng

Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1978; đ a chỉ: N- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua mối quan hệ nên Mai Quốc D quen biết với Nguyễn Thanh T, D nói mình là chủ sở hữu lô đất có diện tích 3.000m2 tại tổ 5, đội 2, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa và đưa tờ trích đo đ a chính thửa đất diện tích 3.215m2 (không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền) đồng thời nói ông T nếu muốn mua thì ký Hợp đồng góp vốn với số tiền 700.000.000đ cùng với D và D cam kết sẽ chuyển nhượng 50% giá tr sử dụng phần tài sản góp vốn cho ông T. Ông T đồng ý và nhờ bà Nguyễn Th T (là em ruột) ký thay vào bên B (bên góp vốn) trong Hợp đồng góp vốn lập ngày 07/6/2018 giữa ông T và D; còn D ký vào Bên A (bên nhận góp vốn) hiện đang là chủ sở hữu của 3.000m2 đất này. Ngày 09/6/2018, ông T yêu cầu T làm lại Hợp đồng góp vốn để ông T cùng ký với D chứ không để T ký thay. Do vậy, T soạn lại Hợp đồng góp vốn ngày 09/6/2018, nội dung như Hợp đồng góp vốn ngày 07/6/2018, phía cuối hợp đồng ông T ký vào bên B (bên góp vốn) và D ký vào bên A (bên nhận góp vốn).

Sau khi ký Hợp đồng góp vốn ngày 09/6/2018, ông T chuyển tiền vào số tài khoản số 0061000743362 thuộc Ngân hàng V - Chi nhánh N của bà T tổng cộng là 700.000.000đ. Sau khi nhận tiền, bà T đã chuyển đủ số tiền 700.000.000đ cho D. D cam kết thỏa thuận trong thời gian 03 tháng (kể từ ngày 09/6/2018) D sẽ hoàn tất thủ tục chuyển nhượng diện tích 3.000m2 đất này cho ông T đứng tên chủ sở hữu và chuyên đổi mục đích sử dụng đất thành đất ở tại nông thôn, nếu không hoàn thành thì phải trả lại số tiền 700.000.000đ và bồi thường 50% giá tr hợp đồng là 350.000.000d. Tuy nhiên sau đó, D không thực hiện theo nội dung cam kêt trong hợp đồng và cũng không thanh toán trả lại tiền cho ông T.

Qua tìm hiểu ông T biết được lô đất có diện tích 3.000m2 tại đ a chỉ tổ 5, đội 2, xã D, huyện D mà D ký Hợp đồng góp vốn ngày 09/6/2018 với ông T thuộc tục danh bãi bồi chùa C, là đất bãi bồi ven sông C, xã D, huyện D, chưa được đo vẽ nên chưa có số thửa, số tờ bản đồ và thuộc quyền quản lý của ủy ban nhân dân xã D, huyện D. Không có lô đất nào có đ a chỉ: Tờ bản đồ số 9, 10 tại tổ 5, đội 2, xã D, huyện D như ghi trong Hợp đồng góp vốn lập ngày 09/6/2018 giữa ông T với D. Không có ai kê khai đăng ký biến động về diện tích 3.000m2 đất tại đ a chỉ này.

Tại bản Kết luận giám đ nh số 522/GDTP/2019 ngày 10/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa, kết luận: Chữ ký mang tên “Mai Quốc D” trên “Hợp đồng góp vốn” đề ngày 09/6/2018 vói các tài liệu so sánh là do cùng một người ký ra.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 18/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với b cáo Mai Quốc D.

Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 của Bộ luật D sự.

Áp dụng Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Xử phạt b cáo Mai Quốc D 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/9/2021.

Ngoài ra bản án còn quyết đ nh về phần trách nhiệm dân sự, thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 02/5/2022 b cáo kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ B cáo Mai Quốc D giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh HĐXX cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của b cáo; tuyên bố b cáo Mai Quốc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và giữ nguyên hình phạt của bản án s thẩm.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

B cáo Mai Quốc D khai nhận hành vi của b cáo cùng b hại Nguyễn Thanh T thỏa thuận chuyển nhượng 50% diện tích 3.000m2 đất bãi bồi của b cáo tại tổ 5, đội 2, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa với giá 700.000.000 đồng và cam kết trong thời gian 03 tháng (kể từ ngày 09/6/2018), b cáo D sẽ hoàn tất thủ tục chuyển nhượng diện tích 3.000m2 đất này cho ông T đứng tên chủ sở hữu, đồng thời chuyển đổi mục đích sử dụng đất thành đất ở và nếu không hoàn thành được cam kết thì Mai Quốc D phải trả lại số tiền 700.000.000đ bồi thường 50% giá tr hợp đồng là 350.000.000 đồng như nội dung của các hợp đồng góp vốn ngày 07/6/2018 và hợp đồng góp vốn ngày 09/6/2018.

Lời khai của b cáo phù hợp với lời khai của b hại Nguyễn Thanh T và lời khai của bà Nguyễn Th T. Đồng thời sau khi ký hợp đồng góp vốn thì b cáo đã nhận đủ số tiền 700.000.000đ. Như vậy, việc thỏa thuận và ký kết các hợp đồng góp vốn ngày 07/6/2018 và 09/6/2018 là có thật và có giá tr chứng minh hành vi của b cáo Mai Quốc D trong vụ án này.

B cáo Mai Quốc D không thừa nhận hợp đồng góp vốn ngày 09/6/2018. Tuy nhiên, nội dung của hợp đồng góp vốn ngày 09/6/2018 và nội dung của hợp đồng góp vốn ngày 07/6/2018 là hoàn toàn giống nhau. Đồng thời, b cáo D thừa nhận hợp đồng góp vốn ngày 07/6/2018 do bà Nguyễn Th T ký là ký thay cho b hại Nguyễn Thanh T “biết T là em ruột ông T nên tôi đồng ý để T ký thay ông T trong hợp đồng góp vốn ngày 07/6/2018 …”. Do đó, hợp đồng góp vốn ngày 09/6/2018 (có chữ ký ông T) là hợp đồng được ký lại theo đúng chủ thể được ghi trong hợp đồng ngày 07/6/2018. Mặt khác, hợp đồng góp vốn ngày 09/6/2018 có đầy đủ chữ ký của b cáo D và con dấu của Công ty P của b cáo D (bên nhận góp vốn), được b cáo D thừa nhận: “con dấu trong hợp đồng là do bị cáo đóng” nên việc b cáo Mai Quốc D không thừa nhận hợp đồng góp vốn ngày 09/6/2018 là không có c sở và nhằm mục đích chối tội.

B cáo Mai Quốc D thực hiện các quyền chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì phải đủ các điều kiện được quy đ nh tại các Điều 188, 189, 190, 191, 192, 193 và 194 luật đất đai năm 2013. Tuy nhiên, theo các Biên bản xác đ nh thửa đất do Công an tỉnh Khánh Hòa lập ngày 16/5/2019, Biên bản xác minh tại UBND xã D ngày 01/8/2019 và Biên bản xác minh tại Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D ngày 10/12/2020 đã thể hiện: Tại thời điểm b cáo D đưa diện tích 3.000m2 đất bãi bồi Chùa C vào giao d ch theo Hợp đồng ngày 07/6/2018, ngày 09/6/2018 thì diện tích đất này chưa được đo vẽ, chưa có số thửa, số tờ bản đồ, thuộc quyền quản lý của UBND xã D và không có lô đất nào có đ a chỉ là : “Tờ bản đồ số 9, 10 tại địa chỉ Tổ 5, Đội 2, Xã D, Huyện D” và cũng không có ai kê khai đăng ký biến động về diện tích 3.000m2 đất tại đ a chỉ này như các hợp đồng góp vốn đã ghi nhận. Bên cạnh đó, quá trình tố tụng tại cấp s thẩm, b cáo D đã thừa nhận hành vi đưa ra các thông tin không đúng sự thật tại các hợp đồng góp vốn ngày 07/6/2018 và 09/6/2018: “Địa chỉ thửa đất 3.000m2 này là do tôi căn cứ vào tờ trích đo địa chính của lô đất 20.000m2 mà UBND xã D cho bà Nguyễn thị Ngọc C thuê…để trồng cây lâu năm và tôi xem trên bản đồ thấy vị trí trích đo từ: M23-M24…nối liền đến M29 nên tôi đặt thông tin là tờ bản đồ số 9, 10…tại địa chỉ tổ 5, đội 2, xã D, huyện D…3.000m2, đất này nằm ngoài 20.000m2 đất do bà Nguyễn thị Ngọc C thuê”. Như vậy, b cáo Mai Quốc D đã thực hiện hành vi đưa ra thông tin sai sự thật đối với b hại Nguyễn Thanh T để nhận số tiền 700 triệu đồng của b hại T. B hại Nguyễn Thanh T tin tưởng b cáo Mai Quốc D “ là chủ sở hữu của bất động sản tại trích lục tờ bản đồ số 9, 10 tại địa chỉ tổ 5, đội 2, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa …Diện tích sử dụng 3.000m2” (Điều 1 của Hợp đồng góp vốn) nên giao số tiền 700.000.000đ cho b cáo D và b cáo D đã nhận đủ số tiền của b hại nhưng b cáo không thực hiện bất kỳ hành vi nào theo nội dung thỏa thuận: Đo lại diện tích thực tế; đăng ký, kê khai biến động; chuyển mục đích và lập thủ tục cấp giấy chứng nhận là gian dối và là nhằm chiếm đoạt số tiền 700.000.000đ.

B cáo Mai Quốc D có lời khai cho rằng diện tích 3.000m2 tại các hợp đồng góp vốn ngày 07/6/2018 và 09/6/2018, là bãi tập kết xe đổ cát được b cáo nhận chuyển nhượng lại của một người khác nhưng không có tài liệu chứng minh: “tôi sang nhượng lại số tiền khoảng 60.000.000 đồng, có làm giấy tay nhưng đã bị thất lạc” và không có bất cứ tài liệu, giấy tờ hợp pháp nào để làm căn cứ xác lập quyền sử dụng đối với diện tích đất này.

B cáo Mai Quốc D cho rằng đã giao số tiền 700 triệu đồng của b hại T cho ch Nguyễn Th T (là em ruột ông T) theo 02 giấy nộp tiền; đó là: Giấy nộp tiền ngày 19/9/2018 và Giấy nộp tiền ngày 01/10/2018. Tuy nhiên, ch T xác đ nh số tiền nhận từ 02 giấy nêu trên là số tiền b cáo D trả nợ riêng cho ch T, không liên quan đến khoản tiền góp vốn của b hại T; tại phiên tòa s thẩm, b cáo D thừa nhận thời điểm tháng 9, tháng 10/2018 b cáo D còn nợ tiền ch T. Đồng thời, nội dung của hai Giấy nộp tiền nêu trên không thể hiện nội dung trả lại tiền vốn góp cho b hại T nên không có căn cứ để chấp nhận lời khai đã trả tiền cho b hại T theo 02 Giấy nộp tiền ngày 19/9/2018, ngày 01/10/2018 của b cáo Mai Quốc D.

Mặt khác, lời khai của b cáo về việc đã trả lại tiền cho b hại T theo 02 Giấy nộp tiền ngày 19/9/2018 và ngày 01/10/2018 là mâu thuẫn với việc sau đó, b cáo D và b hại T lập Biên bản thanh lý hợp đồng ngày 22/11/2018 có nội dung b cáo D cam kết sẽ trả cho b hại T số tiền 1.050.000.000 đồng vào ngày 27/11/2018 (700.000.000đ và bồi thường 50% giá trị hợp đồng là 350.000.000 đồng như nội dung của các hợp đồng góp vốn ngày 07/6/2018, hợp đồng góp vốn ngày 09/6/2018) và giấy hẹn ngày 02/12/2018 cũng có nội dung cam kết trả cho anh T số tiền 1.050.000.000 đồng làm hai đợt (đợt 1 trước 15 giờ ngày 07/12/2018 và đợt 2 trước 15 giờ ngày 14/12/2018).

Vì vậy, có c sở xác đ nh lời khai đã trả tiền của b cáo Mai Quốc D là gian dối. Cho nên, Tòa án cấp s thẩm kết án b cáo Mai Quốc D, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy đ nh tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và buộc b cáo D trả lại cho b hại Nguyễn Thanh T số tiền 700.000.000đ là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của b cáo mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, gây hoang mang lo lắng trong đời sống xã hội. B cáo đã nhiều lần phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và b xử phạt tù; trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù tiếp tục phạm tội đã thể hiện sự coi thường pháp luật và khó cải tạo giáo dục. Do đó, Tòa án cấp s thẩm quyết đ nh xử phạt b cáo 13 (mười ba) năm tù là có chiếu cố và không nặng.

Từ các nhận đ nh [1], [2], [3], [4]; HĐXX cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của b cáo Mai Quốc D. Do không chấp nhận kháng cáo nên b cáo D phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Mai Quốc D và giữ nguyên bản án s thẩm;

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 55 và khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật D sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố b cáo Mai Quốc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Xử phạt b cáo Mai Quốc D 13 (mười ba) năm tù.

Tổng hợp với hình phạt còn lại chưa chấp hành của Bản án số 101/2010/HSPT ngày 17/6/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Bản án số 21/2011/HSST ngày 28/7/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng (Quyết định tổng hợp hình phạt tù số 02/2011/QĐTHHPT-CA ngày 20/9/2011 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng) là 06 năm 10 tháng 06 ngày; buộc b cáo Mai Quốc D phải chấp hành hình phạt chung là 19 (mười chín) năm 10 (mười) tháng 06 (sáu) ngày. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/9/2021.

- Buộc b cáo Mai Quốc D phải có nghĩa vụ trả lại cho anh Nguyễn Thanh T số tiền là 700.000.000d (bảy trăm triệu đồng).

- Giữ nguyên các quyết đ nh khác của bản án s thẩm.

B cáo Mai Quốc D phải ch u án phí phúc thẩm là 200.000 đồng.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ