- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị H và các đồng phạm - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, kháng cáo của bị cáo Vũ Minh Đ và kháng cáo của bị cáo Lê Thị Kim A, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HS-ST ngày 05/7/…
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 403/2019/HS-PT Ngày: 27-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tào
Các Thẩm phán:
Ông Trần Minh Tuấn
Ông Nguyễn Cường
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng- Thƣ ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Ân - Kiểm sát viên.
Vào ngày 27 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 286/TLPT-HS ngày 16 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo: Trần Thị H và các đồng phạm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo và kháng nghị đối với bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HS-ST ngày 05/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 1545/2019/QĐXXPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019.
Bị cáo kháng cáo:
1. Trần Thị H; sinh năm 1955, tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT và chỗ ở trƣớc khi phạm tội: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 9/10; nghề nghiệp: Làm nông; con ông: Trần Quốc P (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; trú tại tỉnh Nghệ An; chồng Nguyễn Hữu T, sinh năm 1949, trú tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và 05 con, con lớn nhất sinh năm 1979, con nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 16/01/2017. Có mặt tại phiên tòa.
1
2. Vũ Minh Đ, sinh năm 1947, tại thành phố Hải Phòng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở trƣớc khi phạm tội: Thôn 5, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 10/10; nghề nghiệp: Hƣu trí; con ông Vũ Minh D và bà Đỗ Thị T (tên thƣờng gọi Đỗ Thị X) đều đã chết; vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1953, trú tại Thôn 5, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1974, con nhỏ nhất sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Có mặt tại phiên tòa.
3. Lê Thị L, sinh năm 1947, tại tỉnh T Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở trƣớc khi phạm tội: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 10/10; nghề nghiệp: Hƣu trí; con ông Lê Trọng L và bà Lê Thị T (đều đã chết); chồng Lê Xuân H, sinh năm 1948 (đã chết) và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1973, con nhỏ nhất sinh năm 1980; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Có mặt tại phiên tòa.
4. Lê Thị Kim A, sinh năm 1961, tại tỉnh Quảng N; nơi ĐKHKTT và chỗ ở trƣớc khi phạm tội: tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Hƣu trí; con ông Lê Đình H và bà Trần Thị Đ ; chồng Văn Công H và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1982, con nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 25/7/2018. Có mặt tại phiên tòa.
5. Nguyễn Thị N Đ, sinh năm 1964, tại thành phố Hải Phòng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở trƣớc khi phạm tội: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: Nội trợ; con ông Nguyễn Hữu H và bà Phạm Thị B (đều đã chết); chồng Đỗ Hữu A, sinh năm 1960, trú tại: tp. B, tỉnh Đắk Lắk và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1985, con nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 27/4/2018, đến ngày 08/8/2018, đƣợc thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
6. Lê Thị T, sinh năm 1978, tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở trƣớc khi phạm tội: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: K toán; con ông Lê H T (đã chết) và bà Đặng Thị H; chồng Ngô Quốc N, sinh năm 1978, trú tại tp. B, tỉnh Đắk Lắk và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Có mặt tại phiên tòa.
7. Đỗ Thị Đ1, sinh năm 1966, tại tỉnh H Yên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở trƣớc khi phạm tội: tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 07/10; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Đỗ Văn Đ, và bà Hoàng Thị D (đều đã chết); chồng Trần Văn T, sinh năm 1964, trú tại : tỉnh Đắk Lắk và 05 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
2
1. Bà Phan Thị N; trú tại: tỉnh Hà Tĩnh;
2. Ông N; trú tại: xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk;
3. Ông Lƣơng Văn L; trú tại: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện E, tỉnh Đắk Lắk;
4. Bà Vũ Thị H; trú tại: phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
5. Ông Nguyễn Chí H; trú tại: Tổ dân phố 3A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
6. Ông Hà Tuấn A; trú tại: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
7. Bà Võ Thị L; trú tại: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
8. Bà Đào Thị T; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
9. Ông Đỗ N T; trú tại tỉnh Đắk Lắk;
10. Bà Hoàng Thị N; trú tại: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
11. Bà Nguyễn Thị G; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
12. Ông Đặng Xuân T; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
13. Bà Nguyễn Thị T; trú tại: Thôn 5, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
14. Ông Vũ Văn T; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
15. Bà Mông Thị N; trú tại: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
16. Bà Nguyễn Thị T H; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
17. Bà Phạm Thị T; trú tại: phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
18. Ông Phạm Văn T; trú tại: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
19. Ông Trần N; trú tại: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
20. Ông Chu Văn T; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
21. Bà Phùng Thị B; trú tại: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
22. Bà Nguyễn Thị Lệ H; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
23. Bà Phùng Thị H; trú tại: tỉnh Nghệ An;
24. Bà Nguyễn Thị T; trú tại: tỉnh Hà Tĩnh;
25. Bà Trần Thị H; trú tại: thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk ;
Ngƣời bị hại ông N và bà Vũ Thị H có mặt, còn lại đều vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Tuấn A; trú tại: tỉnh Hà Tĩnh;
2. Ông Phan Xuân N; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
3. Ông K; trú tại: xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk;
4. Ông Phạm Minh G; trú tại: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
5. Bà Lê Thị L; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
6. Ông Nguyễn Quốc H; trú tại: tỉnh Gia Lai;
7. Ông Nguyễn Đình Q; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
3
8. Ông Hà Văn T; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
9. Ông Nguyễn Công S; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
10. Ông Hứa Khắc K; trú tại: Tổ dân phố 5, phƣờng Nghĩa T, thị xã G, tỉnh Đắk Nông. (Ông H ủy quyền cho bà Lê Thị L; trú tại: tỉnh Đắk Nông tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền lập ngày 10/6/2019);
11. Bà Đặng Thị N; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
12. Bà Lê Thị H; trú tại: thành phố Hà Nội;
13. Bà Phạm Thị T; trú tại: Khối 3A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
14. Ông Phạm Đức M; trú tại: Khối 2B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
15. Ông Hoàng Văn K; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
16. Bà Phạm Thị T; trú tại: huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
17. Ông Lƣơng Văn S; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
18. Bà Nguyễn Thị S; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
19. Ông Trần N L; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
20. Bà Nguyễn Thị H; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
21. Bà Trịnh Thị L; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
22. Ông Phạm T N; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
23. Bà Hoàng Thị H; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
24. Ông Phạm Văn T; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
25. Bà Nguyễn Thị M; trú tại: Tổ dân phố 3B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
26. Ông Lê Hoàng V; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
27. A Nguyễn Viết S; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
28. Bà Hồ Thị Q; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
29. Ông Phan Văn T; trú tại: tỉnh Đắk Nông;
30. Bà Nguyễn Thị C; trú tại: Thôn 2C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk;
31. Ông Lê Cƣờng T; trú tại: Thôn 2B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk;
32. Ông Lê N P; trú tại: tỉnh Quảng Bình;
33. Ông Lê Thăng L; trú tại: tỉnh Quảng Bình;
34. Bà Nguyễn Thị H; trú tại: Thôn 7, xã H, tp. B, tỉnh Đắk Lắk;
35. Ông Nguyễn Tuấn Đ; trú tại: tỉnh Quảng Trị;
36. Bà Hoàng Thị Diệu T; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
37. Ông Nguyễn Hữu H; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
38. Bà Đặng Thị H; trú tại: tỉnh Hà Tĩnh;
39. Ông Võ Minh T; trú tại: tỉnh Khánh Hòa;
40. Bà Phạm Thị Q; trú tại: tỉnh Đắk Lắk;
41. Bà Nguyễn Thị H; trú tại: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
4
42. Bà Võ Thị L; trú tại: huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
43. Bà Đinh Thị T; trú tại: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
44. Bà Nguyễn Thúy L; trú tại: tỉnh Cao Bằng;
45. Bà Nguyễn Thị T; trú tại: tỉnh Hà Tĩnh;
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K và bà Phạm Thị T có mặt, còn lại đều vắng mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo:
- Người bào chữa cho các bị cáo:
1. Ngƣời bào chữa cho bị cáo Trần Thị H, Luật sƣ Nguyễn Văn L – Văn phòng luật sƣ C; địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
2. Ngƣời bào chữa cho bị cáo Lê Thị L, Nguyễn Thị N: Luật sƣ Dƣơng Văn Q - Văn phòng Luật sƣ B – Đoàn luật sƣ tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: 16 Lê Lai, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
3. Ngƣời bào chữa cho bị cáo Vũ Minh Đ: Luật sƣ Vũ Trọng T – Văn phòng Luật sƣ H, Đoàn luật sƣ tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
4. Ngƣời bào chữa cho bị cáo Lê Thị Kim A: Luật sƣ Đàm Quốc C – Công ty Luật TNHH C, Đoàn luật sƣ thành phố Hà Nội; địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
5. Ngƣời bào chữa cho bị cáo Đỗ Thị Đ1: Luật sƣ Tô T D – Văn phòng luật sƣ L – Đoàn luật sƣ tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
6. Ngƣời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ngƣời bị hại ông N: Luật sƣ Lê Vĩnh H, Văn phòng luật sƣ T, Đoàn Luật sƣ tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: thị trấn Đ, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2011 đến cuối năm 2015, lợi dụng vào việc có nhiều học sinh ra trƣờng nhƣng không xin đƣợc việc làm, các đối tƣợng Trần Thị H, Nguyễn Thị L đã đƣa ra thông tin gian dối “có mối quan hệ quen biết rộng, nên có khả năng xin vào học tại các Trường của ngành Công an, vào biên chế trong ngành Công an, G dục và Y tế”; đồng thời lôi kéo các đối tƣợng Vũ Minh Đ, Lê Thị L, Lê Thị Kim A, Nguyễn Thị N Đ, Đỗ Thị Đ1, Lê Thị T, Nguyễn Văn K cùng tham gia nhận tiền rồi chiếm đoạt.
Ngoài ra, để những ngƣời nhờ xin việc, xin đi học tin tƣởng, chờ đợi và giao thêm tiền, Trần Thị H đã làm giả các Quyết định học viên trúng tuyển, Giấy báo
5
nhập học, T báo nhập học của Trƣờng Trung cấp cảnh sát nhân dân VI, cơ sở II tại tỉnh Đồng Nai để giao cho họ, cụ thể nhƣ sau:
I. Về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
1. Đối với Trần Thị H:
Mặc dù không có khả năng xin cho ngƣời khác đƣợc vào học tại các Trƣờng của Ngành Công an, vào biên chế trong ngành Công an, G dục và Y tế, nhƣng Trần Thị H vẫn bàn bạc với Nguyễn Thị L và nói L nhận tiền từ những ngƣời có nhu cầu xin việc làm, xin đi học vào Trƣờng CSND rồi đƣa cho H, khi nhận tiền L có quyền nâng mức chi phí cao hơn để hƣởng số tiền chênh lệch này. Từ đầu năm 2011 đến cuối năm 2015, Nguyễn Thị L đã nhận tiền từ nhiều ngƣời. Tuy nhiên, do thời gian đã lâu, số trƣờng hợp nhờ xin nhiều, các giấy tờ biên nhận không ghi nội dung cụ thể và sau các lần đối chiếu, chốt số liệu thì các giấy tờ có liên quan khi giao nhận tiền đều đem ra tiêu hủy nên H và L không xác định đƣợc cụ thể là L đã nhận rồi đƣa cho H bao nhiêu hồ sơ và số tiền cụ thể của những hồ sơ này. Đến nay, chỉ xác định đƣợc tổng số tiền mà H nhận chƣa trả cho L là 4.588.000.000đ, số tiền này Trần Thị H chiếm đoạt tiêu xài hết.
2. Đối với Nguyễn Thị L và Vũ Minh Đ:
Cũng trong khoảng thời gian từ đầu năm 2011 đến cuối năm 2015, Nguyễn Thị L đƣa thông tin gian dối là “có mối quan hệ quen biết rộng, nên có khả năng xin việc làm, xin đi học”, thông qua các đối tƣợng Lê Thị L, Lê Thị Kim A và một số ngƣời trung gian khác hoặc trực tiếp nhận tiền của ngƣời bị hại, Nguyễn Thị L và Vũ Minh Đ đã nhận tiền rồi chiếm đoạt, cụ thể nhƣ sau:
2.1. Nhận từ Lê Thị L hơn 6.000.000.000đ (sáu tỷ đồng) để nhờ xin cho nhiều trƣờng hợp. Đến ngày 14/11/2015, Nguyễn Thị L và Lê Thị L đối chiếu số tiền đã giao nhận với nhau; sau khi đối chiếu và viết lại “Giấy nhận tiền” thì số tiền mà Nguyễn Thị L nhận từ Lê Thị L hiện chƣa trả là 5.330.000.000đ.
2.2. Nhận từ Lê Thị Kim A số tiền 02 tỷ đồng để xin cho 60 trƣờng hợp có nhu cầu xin việc làm, xin đi học. Khi không xin đƣợc, L chỉ trả lại một phần, còn chƣa trả cho Lê Thị Kim A tổng số tiền 1.622.000.000đ.
2.3. Nhận từ các trƣờng hợp trung gian số tiền 3.280.000.000đ, cụ thể:
- Ngày 26/3/2014, bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970, trú tại Thôn 5, xã H, TP B, tỉnh Đắk Lắk đƣa số tiền 50.000.000đ cho vợ chồng Nguyễn Thị L và Vũ Minh Đ để nhờ xin cho con trai là Trần Văn T vào làm trong ngành Công an. Hiện L đã trả 40.000.000đ cho bà T, còn chƣa trả 10.000.000đ.
- Ngày 15/5/2014, anh Vũ Văn T, sinh năm 1985, trú tại huyện C, tỉnh Đắk Lắk đƣa số tiền 70.000.000đ cho vợ chồng L, Đ để nhờ xin cho em gái là Vũ Thị L vào làm Cảnh sát PCCC tỉnh Đắk Lắk. Hiện L, Đ chƣa trả cho anh T số tiền 70.000.000đ.
- Ngày 05/7/2014, bà Mông Thị N, sinh năm 1960, trú tại số TP B, tỉnh Đắk Lắk đƣa số tiền 80.000.000đ cho vợ chồng L, Đ để nhờ xin cho con gái là Triệu Thị Phƣơng T đi học Trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Hiện L, Đ chƣa trả cho bà N số tiền 80.000.000đ.
6
- Từ ngày 10/10/2014 đến ngày 17/3/2015, bà Nguyễn Thị T H, sinh năm 1970, trú tại tỉnh Đắk Lắk đƣa số tiền 260.000.000đ cho vợ chồng L, Đ để nhờ xin cho con gái tên Nguyễn Thị T H vào làm Cảnh sát PCCC tỉnh Đắk Lắk và 03 trƣờng hợp khác là Triệu Minh T, Nguyễn Thị T N, Phan T T đi làm giáo viên. Khi không xin đƣợc việc, bà H tự bỏ tiền trả cho những ngƣời nhờ xin việc. Hiện L, Đ chƣa trả cho bà H số tiền 260.000.000đ.
- Ngày 16/7/2015 và ngày 20/10/2015, bà Phạm Thị T, sinh năm 1951, trú tại phƣờng T, TP B đƣa số tiền 50.000.000đ cho Nguyễn Thị L để xin cho cháu là Nguyễn Trọng H đi học Trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Hiện, L chƣa trả cho bà T số tiền 50.000.000đ.
- Từ ngày 09/8/2015 đến ngày 19/8/2015, anh Phạm Văn T, sinh năm 1975, trú tại TP B, tỉnh Đắk Lắk đƣa số tiền 50.000.000đ cho Nguyễn Thị L để xin cho chị Nguyễn Thị T, trú tại TP B, tỉnh Đắk Lắk vào làm kế toán trƣờng học tại TP B. Đầu 2016, anh T tự bỏ 50.000.000đ trả cho chị T. Hiện L chƣa trả số tiền 50.000.000đ cho anh T.
- Khoảng tháng 3 - 4/2014, anh Trần N, sinh năm 1977, trú tại TP B, tỉnh Đắk Lắk nhận của bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1973, trú tại huyện E số tiền 50.000.000đ và nhận của ông Lê Cƣờng T, sinh năm 1964, trú tại Thôn 2B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk số tiền 80.000.000đ để xin cho con của bà C, ông T là Lê Thị H và Lê N Bảo H đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, anh N đƣa số tiền 100.000.000đ cho Nguyễn Thị L.
Khi không xin đƣợc, L trả lại cho anh N 50.000.000đ, N trả lại cho chị C 10.000.000đ và trả cho anh T 70.000.000đ (gồm 50 triệu đồng do L trả lại và 30 triệu đồng do N giữ lại). Hiện L chƣa trả số tiền 50.000.000đ cho anh N.
- Năm 2014, ông Chu Văn T, sinh năm 1972, trú tại tỉnh Đắk Lắk đƣa số tiền 130.000.000đ cho Nguyễn Thị L để xin cho con là Chu Minh T đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Hiện L chƣa trả số tiền 130.000.000đ cho ông T.
- Khoảng tháng 3/2014, bà Phùng Thị B, sinh năm 1965, trú tại TP B, tỉnh Đắk Lắk đƣa số tiền 50.000.000đ cho Nguyễn Thị L để xin cho con là Cao Hoàng V vào làm Cảnh sát PCCC tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận tiền, tháng 7/2015, L trả bà B 35.000.000đ, hiện còn chƣa trả số tiền 15.000.000đ.
- Bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1960, trú tại tỉnh Đắk Lắk:
Đầu tháng 3/2014, ông Lê N P, sinh năm 1960, trú tại tỉnh Quảng Bình đƣa số tiền 160.000.000đ cho bà H để nhờ xin cho trƣờng hợp Lê Thăng L, trú tại tỉnh Quảng Bình đi học trƣờng Trung cấp Cảnh sát nhân dân VI, cơ sở II. Sau đó, bà H đƣa cho bà Nguyễn Thị H sinh năm 1950, trú tại Thôn 7, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk số tiền 20.000.000đ thì bà H đƣa số tiền này cho Vũ Minh Đ; sau đó bà H đƣa tiếp 150.000.000đ thành số tiền là 170.000.000đ cho vợ chồng Nguyễn Thị L, Vũ Minh Đ để xin cho anh L. Khi không xin đƣợc, L trả lại cho bà H 84.000.000đ, còn chƣa trả số tiền 86.000.000đ cho bà H.
7
- Từ tháng 11 – 12/2014, chị Phùng Thị H, sinh năm 1985, trú tại tỉnh Nghệ An đƣa cho bà Đặng Thị H, sinh năm 1970, trú tại TP H và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971, trú tại tỉnh Hà Tĩnh tổng số tiền 1.020.000.000đ để nhờ xin cho 24 trƣờng hợp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đi học Trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, bà T bỏ thêm số tiền 140.000.000đ thành số tiền 1.160.000.000đ rồi đƣa cho Nguyễn Thị L để nhờ xin cho 24 trƣờng hợp trên và một số trƣờng hợp khác. Ngày 01/9/2015 và ngày 29/01/2016, L trả cho chị Phùng Thị H số tiền 300.000.000đ (gồm 280.000.000đ do con rể L là Võ Minh T, sinh năm 1985, trú tại tỉnh Khánh Hòa trả thay và 20.000.000đ do T bỏ ra), chị H đã tự bỏ tiền trả hết cho những ngƣời xin đi học. Hiện L chƣa trả bà H số tiền 720.000.000đ, chƣa trả bà T số tiền 160.000.000đ.
- Khoảng tháng 6/2015, bà Phạm Thị Q, sinh năm 1965, trú tại tỉnh Đắk Lắk đƣa số tiền 10.000.000đ cho Nguyễn Thị L để nhờ xin cho con gái là Nguyễn Thị Hoài T làm giáo viên. Sau khi nhận tiền, L đƣa cho Trần Thị H 10.000.000đ. Tháng 11/2015, L đã tự bỏ số tiền 10.000.000đ trả cho bà Q.
- Năm 2011, bà Trần Thị H, sinh năm 1952, trú tại Khối 3A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đƣa số tiền 240.000.000đ cho Nguyễn Thị L để xin việc cho 03 trƣờng hợp là Trần Thị T, Trần Thị T, Phạm Thị H; L đƣa Trần Thị H số tiền 150.000.000đ. Năm 2012, khi không xin đƣợc việc, L tự bỏ tiền trả hết cho bà H.
- Ngoài ra, từ tháng 5/2014 đến tháng 01/2015, Nguyễn Thị L và Vũ Minh Đ còn nhận của bà Trần Thị H để xin việc làm, xin đi học với tổng số tiền là 860.000.000đ. Số tiền này Nguyễn Thị L đƣa Trần Thị H 390.000.000đ, giữ lại 470.000.000đ, cụ thể: Ngày 06/5/2014 và ngày 09/5/2014, Nguyễn Thị L nhận của bà H tổng số tiền 50.000.000đ để xin cho trƣờng hợp tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) đi học trƣờng Trung cấp Cảnh sát nhân dân VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Thị L đƣa Trần Thị H 20.000.000đ, giữ lại 30.000.000đ. Ngày 18/8/2014, Nguyễn Thị L nhận của bà H 50.000.000đ để xin cho trƣờng hợp Phạm Thị Hải Yến (không rõ nhân thân, lai lịch) vào làm Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy (PCCC) tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Thị L đƣa Trần Thị H 30.000.000đ, giữ lại 20.000.000đ. Ngày 29/8/2014, Vũ Minh Đ nhận của bà H số tiền 50.000.000đ để xin cho trƣờng hợp Nguyễn Đức T (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi nhận tiền, Vũ Minh Đ đƣa hết cho Nguyễn Thị L, L đƣa Trần Thị H 20.000.000đ, giữ lại 30.000.000đ. Ngày 06/01/2015 và ngày 09/01/2015, Nguyễn Thị L nhận của bà H số tiền 50.000.000đ để xin cho trƣờng hợp Lê Q Hoàng trú tại Khối 2B, thị trấn K, huyện K. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Thị L đƣa Trần Thị H 20.000.000đ, giữ lại 30.000.000đ. Ngày 13/01/2015, bà H đƣa Nguyễn Thị L số tiền 550.000.000đ để xin cho 07 trƣờng hợp (không rõ nhân thân, lai lịch) đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Thị L đƣa Trần Thị H 250.000.000đ, giữ lại 300.000.000đ. Ngày 13/01/2015, bà H đƣa Nguyễn Thị L số tiền 40.000.000đ để xin cho trƣờng hợp Trần Thị T (con bị cáo Đỗ Thị Đ1) làm giáo viên huyện K. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Thị L đƣa Trần Thị H 20.000.000đ, giữ lại 20.000.000đ. Ông Vũ Minh Đ còn nhận của bà H số tiền 70.000.000đ
8
(không xác định đƣợc thời gian nhận) để xin cho trƣờng hợp Nguyễn Hữu Đức A, con bà Đỗ Thị N, sinh năm 1962, trú tại TP. B, tỉnh Đắk Lắk vào làm trong Công an tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận tiền, Vũ Minh Đ đƣa hết Nguyễn Thị L, L đƣa Trần Thị H 30.000.000đ, giữ lại 40.000.000đ. Hiện bà Trần Thị H đã trả hết tiền cho các trƣờng hợp nhờ xin việc làm, xin đi học và không còn nhớ đầy đủ thông tin của các trƣờng hợp nhờ xin.
Nhƣ vậy, tổng số tiền mà Nguyễn Thị L nhận từ những trƣờng hợp nêu trên là 9.842.000.000đ, đƣa cho Trần Thị H số tiền 4.588.000.000đ, còn chiếm đoạt tiêu xài cá nhân số tiền 5.254.000.000đ.
Đối với Vũ Minh Đ là chồng của Nguyễn Thị L; Đ biết rõ L đã có tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cũng thông qua hình thức chạy biên chế, chạy điểm, nhận xin việc làm và sau khi chấp hành xong án phạt tù, L chỉ ở nhà làm nội trợ, không có mối quan hệ quen biết với ngƣời có khả năng xin việc làm, xin đi học, nhƣng Đ vẫn cùng L gặp gỡ, trao đổi, đƣa thông tin xin việc, xin đi học và đã trực tiếp hoặc cùng Nguyễn Thị L nhận tổng số tiền 897.000.000đ từ một số ngƣời nêu trên rồi đƣa cho L. Hành vi nêu trên của Vũ Minh Đ đã giúp sức cho Nguyễn Thị L trong việc chiếm đoạt tiền từ những ngƣời có nhu cầu xin việc, xin đi học, nên Vũ Minh Đ phải chịu trách nhiệm cùng Nguyễn Thị L về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt số tiền 897.000.000đ.
3. Đối với Lê Thị L:
Sau khi tiếp nhận thông tin từ Nguyễn Thị L, Lê Thị L tiếp tục đƣa thông tin gian dối và thông qua trung gian để nhận tiền của nhiều ngƣời rồi đƣa cho Nguyễn Thị L và giữ lại một phần chênh lệch sử dụng tiêu xài cá nhân. Đến đầu năm 2012, quá hạn nhƣng không xin đƣợc việc, xin đi học cho trƣờng hợp nào nên nhiều ngƣời đòi lại tiền; lúc này Nguyễn Thị L không trả lại tiền mà nói với Lê Thị L tiếp tục nhận tiền của ngƣời có nhu cầu xin việc, xin đi học để trả cho những trƣờng hợp đã nhận tiền trƣớc, cụ thể nhƣ sau:
3.1 Nhận từ bà Phan Thị N tổng số tiền 3.200.000.000 đồng để nhờ xin cho hơn 30 trƣờng hợp đƣợc đi học. Đến hẹn không xin đƣợc, Lê Thị L chỉ trả lại một phần tiền đã nhận rồi cả hai đối chiếu và chốt tổng số tiền mà Lê Thị L đã nhận, chƣa trả cho bà N là 2.446.000.000đ.
3.2 Nhận từ Cao Xuân T khoảng 2.000.000.000 đồng (không xác định cụ thể bao nhiêu trƣờng hợp). Đến hẹn không xin đƣợc, Lê Thị L trả lại phần lớn số tiền đã nhận, lúc này cả hai cùng đối chiếu và chốt số tiền mà L còn nợ ông T là 271.000.000đ.
3.3 Nhận từ Đỗ Thị Đ1 số tiền 370.000.000đ để xin cho 03 trƣờng hợp; hiện chƣa trả cho bà Đỗ Thị Đ1 số tiền 370.000.000đ.
Ngoài ra, khoảng tháng 8 - 9/2014 Lê Thị L còn nhận từ Đỗ Thị Đ1 số tiền 50.000.000đ để xin việc cho con của Đ1 là cháu Trần Thị X; hiện Lê Thị L chỉ trả lại cho Đ1 2.000.000đ, còn chƣa trả 48.000.000đ.
9
3.4 Nhận từ Hà A T số tiền 370.000.000đ, đƣa cho Nguyễn Thị L 350.000.000đ. Khi bị đòi tiền, Lê Thị L trả số tiền 50.000.000đ, còn chƣa trả anh Hà A T số tiền 300.000.000đ.
3.5 Nhận từ bà Võ Thị L số tiền 170.000.000đ xin cho cháu của ngƣời quen bà L là Châu A Hoàng H đi học trƣờng Trung cấp Cảnh sát VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, Lê Thị L đƣa Nguyễn Thị L 140.000.000đ, Nguyễn Thị L đƣa Trần Thị H 70.000.000đ. Hiện Nguyễn Thị L đã trả lại hết cho Lê Thị L, bà Lê Thị L trả bà L số tiền 75.000.000đ, còn chƣa trả số tiền 95.000.000đ cho bà Võ Thị L.
3.6 Nhận từ bà Đào Thị T số tiền 120.000.000đ để xin cho con bà T là Lê Thị Bảo Yến vào làm Cảnh sát PCCC tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận tiền, Lê Thị L đƣa Nguyễn Thị L 100.000.000đ, Nguyễn Thị L đƣa Trần Thị H 50.000.000đ. Khi không xin đƣợc việc, Lê Thị L đã trả bà T 20.000.000đ, hiện còn chƣa trả bà T số tiền 100.000.000đ.
3.7 Nhận từ ông Đỗ N T số tiền 105.000.000đ để xin cho 02 con của ông T là Đỗ Quốc Quân và Đỗ N Công vào làm trạm xá xã và giáo viên trên địa bàn huyện K. Sau khi nhận tiền, Lê Thị L đƣa hết cho Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị L đƣa Trần Thị H 60.000.000đ. Hiện Lê Thị L chƣa trả số tiền 105.000.000đ cho ông T.
3.8 Nhận từ bà Hoàng Thị N số tiền 170.000.000đ:
Từ ngày 07/9/2014 đến ngày 02/11/2014, bà Phạm Thị T, sinh năm 1967, trú tại: huyện K, tỉnh Đắk Lắk đƣa cho bà Hoàng Thị N, sinh năm 1958, trú TP B, tỉnh Đắk Lắk số tiền 200.000.000đ để nhờ xin cho con là Phan Đình C đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, bà N đƣa cho Lê Thị L 170.000.000đ, Lê Thị L đƣa Nguyễn Thị L 150.000.000đ, Nguyễn Thị L đƣa Trần Thị H 70.000.000đ. Đến nay, Lê Thị L chƣa trả cho bà N số tiền 170.000.000đ.
Nhƣ vậy, từ năm 2011 đến năm 2015 Lê Thị L đã nhận số tiền hơn 6.000.000.000 đồng của nhiều trƣờng hợp sau đó đƣa cho Nguyễn Thị L; khi không xin đƣợc, Nguyễn Thị L chỉ trả lại một phần còn chƣa trả cho Lê Thị L số tiền 5.330.000.000đ; Lê Thị L bỏ tiền trả cho bị hại và ngƣời trung gian, hiện số tiền còn chƣa trả là 3.905.000.000đ. Hành vi nêu trên của Lê Thị L đã giúp sức cho Nguyễn Thị L trong việc chiếm đoạt tiền của những ngƣời có nhu cầu xin việc, xin đi học, nên Lê Thị L phải chịu trách nhiệm cùng Nguyễn Thị L về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt số tiền 3.905.000.000đ.
4. Đối với Lê Thị Kim A:
Năm 2011, sau khi tiếp nhận thông tin từ Nguyễn Thị L, Lê Thị Kim A tiếp tục đƣa thông tin gian dối và thông qua trung gian để nhận tiền của nhiều ngƣời rồi đƣa cho Nguyễn Thị L và giữ lại một phần chênh lệch sử dụng tiêu xài cá nhân. Đến đầu năm 2013, quá hạn nhƣng không xin đƣợc việc, xin đi học cho trƣờng hợp nào nên nhiều ngƣời đòi lại tiền; lúc này Nguyễn Thị L không trả lại tiền mà nói với Lê Thị Kim A tiếp tục nhận tiền của ngƣời có nhu cầu xin việc, xin đi học để trả cho những trƣờng hợp đã nhận tiền trƣớc, cụ thể nhƣ sau:
4.1 Nhận thông qua bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1962, trú tại tỉnh Đắk Nông:
10
Năm 2013 – 2014, sau khi tiếp nhận thông tin từ Lê Thị Kim A, bà Nguyễn Thị G đã nhận tiền từ 06 trƣờng hợp rồi đƣa cho Kim A nhờ xin việc, xin đi học. Khi không xin đƣợc, Nguyễn Thị L trả Kim A số tiền 70.000.000đ, Kim A trả lại 201.000.000đ ( trong đó có 70.000.000đ của L), bà G tự bỏ tiền trả hết cho những trƣờng hợp nhờ xin việc làm, xin đi học, gồm:
- Trƣờng hợp Nguyễn Quốc T: Khoảng tháng 5 – 6/2013, ông Nguyễn Quốc Trạch, nhà ở huyện K (không xác định nhân thân, địa chỉ) đƣa bà G 70.000.000đ để nhờ xin cho con là Nguyễn Quốc T làm giáo viên. Sau khi nhận tiền, bà G đƣa Kim A 70.000.000đ, Kim A đƣa Nguyễn Thị L 60.000.000đ, L đƣa Trần Thị H 10.000.000đ.
- Trƣờng hợp Trần H Đ: Khoảng tháng 7/2013, bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1960, trú tại Tổ dân phố 7, tỉnh Đắk Nông đƣa bà G 120.000.000đ nhờ xin cho con là Trần H Đ làm Cảnh sát PCCC tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận tiền, bà G đƣa Lê Thị Kim A 120.000.000đ, Kim A đƣa Nguyễn Thị L 60.000.000đ, L đƣa Trần Thị H 30.000.000đ.
- Trƣờng hợp Trần N D: Khoảng tháng 9/2013, ông Trần N L, sinh năm 1966, trú tại tỉnh Đắk Nông đƣa bà G 120.000.000đ nhờ xin cho con là Trần N D làm Cảnh sát PCCC tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận tiền, bà G đƣa Kim A 120.000.000đ, Kim A đƣa L 60.000.000đ, L đƣa Thị H 30.000.000đ.
- Trƣờng hợp Phạm Văn T: Khoảng cuối năm 2013, chị Nguyễn Thị H (cháu bà G), sinh năm 1989, trú tại Tổ dân phố 9, tỉnh Đắk Nông đƣa bà G 100.000.000đ để nhờ xin cho bạn học cũ là Phạm Văn T (hiện không xác định nhân thân, địa chỉ) đi làm Cảnh sát PCCC tỉnh Đắk Lắk, bà G bỏ thêm 20.000.000đ rồi đƣa cho Kim A 120.000.000đ, Kim A đƣa Nguyễn Thị L 60.000.000đ, L đƣa Trần Thị H 30.000.000đ.
- Trƣờng hợp Nguyễn Thị T: Tháng 7 - 8/2014, bà Trịnh Thị L, sinh năm 1969, trú tại Tổ dân phố 14, tỉnh Đắk Nông đƣa bà G 120.000.000đ để xin cho con là Nguyễn Thị T đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, bà G đƣa Kim A 120.000.000đ, Kim A đƣa Nguyễn Thị L 20.000.000đ, L đƣa Trần Thị H 10.000.000đ.
- Trƣờng hợp Phạm Đăng D: Khoảng tháng 9/2014, ông Phạm T N, sinh năm 1957, trú tại tỉnh Đắk Nông đƣa bà G 120.000.000đ để nhờ xin cho cháu ruột là Phạm Đăng D đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, bà G đƣa Kim A 120.000.000đ, Kim A đƣa Nguyễn Thị L 10.000.000đ, L đƣa Trần Thị H 10.000.000đ.
Tổng số tiền mà bà G nhận của 06 trƣờng hợp trên là 650.000.000đ, bà G bỏ thêm 20.000.000đ thành số tiền 670.000.000đ rồi đƣa Lê Thị Kim A, Kim A đƣa Nguyễn Thị L 270.000.000đ, giữ lại số tiền 400.000.000đ; L đƣa Trần Thị H 120.000.000đ, giữ lại 150.000.000đ. Khi không xin đƣợc, L trả Kim A 70.000.000đ; Kim A trả bà G 201.000.000đ, còn nợ bà G số tiền 469.000.000đ; bà G tự bỏ tiền trả hết cho các trƣờng hợp trên.
4.2 Nhận thông qua ông Đặng Xuân T, sinh năm 1978, trú tại tỉnh Đắk Lắk:
11
Từ khoảng giữa năm 2014 - 2015, sau khi tiếp nhận thông tin từ Lê Thị Kim A, ông Đặng Xuân T đã nhận số tiền từ 26 trƣờng hợp rồi đƣa cho Kim A nhờ xin việc, xin đi học. Sau khi nhận 1.460.000.000đ từ 26 trƣờng hợp nêu trên, ông T trình bày đã đƣa cho Kim A 1.150.000.000đ, nhƣng quá trình giao nhận tiền không làm giấy tờ biên nhận, cũng không có ngƣời chứng kiến; tuy nhiên, Kim A chỉ thừa nhận đã nhận từ ông T 430.000.000đ và đƣa hết cho Nguyễn Thị L, L đƣa hết cho Trần Thị H. Khi không xin đƣợc việc, anh T bỏ 827.000.000đ để trả cho những ngƣời nhờ xin việc làm, xin đi học. Hiện Lê Thị Kim A chƣa trả 430 triệu đồng cho ông Đặng Xuân T.
4.3 Nhận thông qua Nguyễn Văn K, sinh năm 1980, trú tại huyện C, tỉnh Đắk Lắk:
Tháng 6/2014, sau khi tiếp nhận thông tin từ Lê Thị Kim A, Nguyễn Văn K tiếp tục đƣa ra thông tin quen biết ngƣời có khả năng xin đƣợc việc làm, xin đi học và đƣa ra số tiền chi phí cao hơn, mục đích để giữ lại số tiền chênh lệch tiêu xài cá nhân. Khi không xin đƣợc, Kim A trả lại toàn bộ số tiền đã nhận từ K, nhƣng K chỉ trả lại một phần, không trả lại hết cho ngƣời bị hại, gồm:
- Trƣờng hợp Hoàng Thị H: Từ ngày 16 - 18/6/2014, bà Hoàng Thị H, sinh năm 1974, trú tại tỉnh Đắk Lắk đƣa K 120.000.000đ để nhờ xin cho con gái là Hoàng Thị H đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, K đƣa Kim A 100.000.000đ và Kim A trực tiếp nhận thêm của bà H 40.000.000đ, Kim A đƣa Nguyễn Thị L 15.000.000đ, Nguyễn Thị L đƣa Trần Thị H 15.000.000đ. Khoảng cuối năm 2014, Nguyễn Thị L trả lại cho Kim A 15.000.000đ; Kim A trả cho K 100.000.000đ và trả bà H 40.000.000đ; K trả bà H 85.000.000đ.
- Trƣờng hợp Phạm Văn D: Từ ngày 09/6/2014 đến tháng 10/2014, ông Phạm Văn T, sinh năm 1963, trú tại S tỉnh Đắk Lắk đƣa K 100.000.000đ để xin cho con Phạm Văn D đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, K đƣa Kim A 70.000.000đ, Kim A đƣa Nguyễn Thị L 15.000.000đ, L đƣa Trần Thị H 10.000.000đ. Khi bị đòi lại tiền, L trả cho Kim A 15.000.000đ, Kim A trả cho K 70.000.000đ, K trả cho ông T 80.000.000đ, hiện còn chƣa trả ông T 20.000.000đ.
- Trƣờng hợp Nguyễn Thị M: Khoảng tháng 5/2014, chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1989, trú tại Tổ dân phố 3B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đƣa K 20.000.000đ để nhờ xin vào làm kế toán trong Công an tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận tiền, K đƣa Kim A 20.000.000đ, Kim A đƣa Nguyễn Thị L 10.000.000đ, L đƣa Trần Thị H 10.000.000đ. Tháng 7/2015, khi bị đòi lại tiền, L trả Kim A 10.000.000đ, Kim A trả K 20.000.000đ, K trả chị M 20.000.000đ.
- Trƣờng hợp Nguyễn Viết S: Tháng 6/2016, ông Lê Hoàng V, sinh năm 1947, trú tại tỉnh Đắk Nông nhờ K xin cho con của ngƣời quen là Nguyễn Viết S, trú tại tỉnh Đắk Nông đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II nhƣng chƣa đƣa tiền nên K cũng chƣa đƣa tiền cho Kim A. Kim A bỏ 10.000.000đ đƣa cho Nguyễn Thị L, L đƣa Trần Thị H 10.000.000đ. Khi không xin đƣợc việc thì bà L đã trả lại Kim A số tiền 10.000.000đ.
12
- Trƣờng hợp một ngƣời tên H (không rõ nhân thân lai lịch): Gia đình H đƣa K 50.000.000đ nhờ xin cho H làm giáo viên. Sau khi nhận tiền, K đƣa Kim A 40.000.000đ, Kim A đƣa Nguyễn Thị L 20.000.000đ, L đƣa Trần Thị H 10.000.000đ. Khi bị đòi tiền, Kim A bỏ 40.000.000đ trả cho K, K trả hết cho trƣờng hợp này.
Nhƣ vậy, trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2015, Lê Thị Kim A đã nhận 02 tỷ đồng của 60 trƣờng hợp rồi đƣa cho Nguyễn Thị L. Khi không xin đƣợc, Nguyễn Thị L chỉ trả lại một phần tiền, hai bên chốt số tiền mà L còn nợ Kim A là 1.622.000.000đ; Lê Thị Kim A bỏ tiền trả cho một số ngƣời đã đƣa tiền xin việc, xin đi học, hiện còn nợ số tiền là 899.000.000đ. Hành vi nêu trên của Lê Thị Kim A đã giúp sức cho Nguyễn Thị L trong việc chiếm đoạt tiền của những ngƣời có nhu cầu xin việc, xin đi học, nên Lê Thị Kim A phải chịu trách nhiệm cùng Nguyễn Thị L về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt số tiền 899.000.000đ.
Ngày 01/5/2019, ông Văn Công H (chồng của Lê Thị Kim A) đã trả cho bà Nguyễn Thị G 469.000.000 đồng và ngày 10/5/2019 bà G có Đơn xin rút đơn tố cáo, xin bãi nại cho Kim A.
5. Đối với Nguyễn Thị N Đ:
Năm 2014, sau khi tiếp nhận thông tin từ Lê Thị T, Nguyễn Thị N Đ tiếp tục đƣa thông tin gian dối và thông qua bà Vũ Thị H để nhận tiền xin việc làm, xin đi học cho một số trƣờng hợp rồi đƣa Lê Thị T và giữ lại một phần sử dụng tiêu xài cá nhân, cụ thể nhƣ sau:
- Trƣờng hợp xin cho cháu Nguyễn Viết C: Từ tháng 9/2014 đến tháng 12/2014, ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1970, trú tại tỉnh Gia Lai đƣa cho bà Lê Thị L 400.000.000đ để nhờ xin cho Nguyễn Viết C (con ông H) đi học Trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, bà L đƣa 400.000.000đ cho bà Vũ Thị H, bà H đƣa 300.000.000đ cho Nguyễn Thị N Đ, Đ đƣa 250.000.000đ cho Lê Thị T, T đƣa 220.000.000đ cho Cao Xuân T, T đƣa 180.000.000đ cho Lê Thị L, Lê Thị L đƣa 150.000.000đ cho Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị L đƣa 40.000.000đ cho Trần Thị H.
- Trƣờng hợp xin cho anh Hà Văn T: Từ tháng 9/2014 đến tháng 12/2014, anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 1981, trú tại tỉnh Đắk Nông đã đƣa 400.000.000đ cho bà Lê Thị L để nhờ xin cho em họ là Hà Văn T, sinh năm 1994, trú tại, tỉnh Đắk Nông đƣợc đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ ở II. Sau khi nhận tiền, bà L đƣa 400.000.000đ cho bà Vũ Thị H, bà H đƣa 300.000.000đ cho Nguyễn Thị N Đ, Đ đƣa 250.000.000đ cho Lê Thị T, T đƣa 220.000.000đ cho Cao Xuân T, T đƣa 180.000.000đ cho Lê Thị L, Lê Thị L đƣa 150.000.000đ cho Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị L đƣa 40.000.000đ cho Trần Thị H.
- Trƣờng hợp xin cho cháu Nguyễn A T: Từ tháng 9/2014 đến tháng 12/2014, ông Nguyễn Công S, sinh năm 1968, trú tại thị xã G, tỉnh Đắk Nông đã đƣa cho bà Lê Thị L 500.000.000đ để nhờ xin cho con Nguyễn A T đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, bà L đƣa 500.000.000đ cho bà Vũ Thị H, bà H đƣa 320.000.000đ cho Nguyễn Thị N Đ, Đ đƣa 270.000.000đ cho Lê Thị T, T đƣa
13
240.000.000đ cho Cao Xuân T, T đƣa 180.000.000đ cho Lê Thị L, Lê Thị L đƣa 150.000.000đ cho Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị L đƣa 40.000.000đ cho Trần Thị H.
- Trƣờng hợp xin cho cháu Lê Thị T H: Khoảng tháng 8/2014, ông Hứa Khắc K, sinh năm 1964, trú tại Tổ dân phố 5, phƣờng Nghĩa T, thị xã G, tỉnh Đắk Nông đƣa cho bà Lê Thị L 200.000.000đ để xin cho cháu Lê Thị T H đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, bà L đƣa 200.000.000đ cho bà Vũ Thị H, bà H đƣa 200.000.000đ cho Nguyễn Thị N Đ, Đ đƣa 150.000.000đ cho Lê Thị T, T bỏ thêm 50.000.000đ thành 200.000.000đ để đƣa Cao Xuân T, T đƣa 180.000.000đ cho Lê Thị L, Lê Thị L đƣa 150.000.000đ cho Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị L đƣa 40.000.000đ cho Trần Thị H.
- Trƣờng hợp xin cho cháu Lê Thị H (chị của Lê Thị T H): Từ tháng 9/2014 đến tháng 10/2014, ông Hứa Khắc K đƣa cho bà Lê Thị L 390.000.000đ để nhờ xin cho cháu Lê Thị H vào làm tại Cảnh sát PCCC tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận tiền, bà L đƣa 390.000.000đ cho bà Vũ Thị H, bà H đƣa 200.000.000đ cho Nguyễn Thị N Đ, Đ đƣa 160.000.000đ cho Lê Thị T, T đƣa 30.000.000đ cho Cao Xuân T, T đƣa 30.000.000đ cho Lê Thị L, Lê Thị L đƣa 30.000.000đ cho Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị L đƣa 30.000.000đ cho Trần Thị H. Sau đó, chị H không xin nữa thì T thay bằng trƣờng hợp của Đặng Thị H L nhƣng chƣa nhận tiền từ chị L và chƣa trả lại tiền cho chị H.
Nhƣ vậy: Tổng số tiền mà Lê Thị L đƣa Vũ Thị H để xin việc, xin đi học cho các trƣờng hợp trên là 1.890.000.000đ, H đƣa cho Nguyễn Thị N Đ là 1.320.000.000đ, giữ lại 570.000.000đ. Đ đƣa cho Lê Thị T là 1.080.000.000đ, giữ lại 240.000.000đ. T đƣa cho T 910.000.000đ, giữ lại 170.000.000đ. T đƣa cho Lê Thị L 750.000.000 đồng, giữ lại 160.000.000đ. Do T đã chết, nên Lê Thị L phải chịu trách nhiệm trả cho Lê Thị T số tiền đã nhận từ T là 730.000.000đ (T đã trả cho T đƣợc 20.000.0000đ); Lê Thị T phải chịu trách nhiệm trả cho Đ số tiền 160.000.000đ mà T nhận từ T sau đó giữ lại tiêu xài.
Nhƣ vậy, thông qua bà Vũ Thị H thì Nguyễn Thị N Đ đã có hành vi chiếm đoạt 240.000.000 đồng.
Từ tháng 3 đến 9/2015, Đ tự nguyện trả 20.000.000đ và ngày 04/5/2018 gia đình bị cáo khắc phục 220.000.000đ thay cho bà Đ.
6. Đối với Lê Thị T:
Năm 2014, sau khi tiếp nhận thông tin từ Cao Xuân T, Lê Thị T tiếp tục đƣa thông tin gian dối rồi nhận 1.080.000.000đ từ Nguyễn Thị N Đ để xin việc làm, xin đi học cho một số trƣờng hợp; sau khi nhận tiền T đƣa cho T 910.000.000đ, giữ lại 170.000.000đ tiêu xài cá nhân hết. Nhƣ vậy, thông qua Nguyễn Thị N Đ thì Lê Thị T đã có hành vi chiếm đoạt 170.000.000 đồng.
Ngày 08/3/2016 và ngày 08/5/2018, Lê Thị T tự nguyện nộp 170.000.000đ để khắc phục hậu quả.
7. Đối với Đỗ Thị Đ1:
14
Năm 2013 và 2014, sau khi tiếp nhận thông tin gian dối từ Lê Thị L, Đỗ Thị Đ1 nói lại cho nhiều ngƣời, trong đó có bà Phạm Thị T, sinh năm 1955, trú tại Khối 3A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là Đ1 quen ngƣời có khả năng xin việc làm, xin đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau đó, Đ1 đã nhận tiền để xin cho 03 trƣờng hợp sau:
- Trƣờng hợp Phạm Đức T: Khoảng tháng 3 đến tháng 4/2013, ông Phạm Đức M, sinh năm 1963, trú tại Khối 2B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đƣa bà Phạm Thị T số tiền 100.000.000đ để nhờ xin cho con là Phạm Đức T vào làm tại Cảnh sát PCCC tỉnh Đắk Lắk. Sau khi nhận tiền, bà T đƣa toàn bộ số tiền nhận từ ông M cho Đỗ Thị Đ1, Đ1 đƣa số tiền 90.000.000đ cho Lê Thị L, Lê Thị L đƣa số tiền 90.000.000đ cho Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị L đƣa số tiền 50.000.000đ cho Trần Thị H. Khi không xin đƣợc việc, bà T tự bỏ tiền trả hết cho ông M.
- Trƣờng hợp Phạm Đức H: Khoảng tháng 4 đến tháng 5/2014, ông Phạm Đức M đƣa cho bà Phạm Thị T số tiền 190.000.000đ để nhờ xin cho con là Phạm Đức H đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, bà T đƣa toàn bộ số tiền nhận từ ông M cho Đỗ Thị Đ1; Đ1 đƣa số tiền 140.000.000đ cho Lê Thị L, Lê Thị L đƣa số tiền 130.000.000đ cho Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị L đƣa số tiền 70.000.000đ cho Trần Thị H. Khi bị đòi tiền, bà T tự bỏ tiền trả hết cho ông M.
- Trƣờng hợp Nguyễn Chí T: Khoảng tháng 4/2014, ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1965, trú tại Tổ dân phố 3A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đƣa bà Phạm Thị T 270.000.000đ để nhờ xin cho cháu là Nguyễn Chí T đi học trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau khi nhận tiền, bà T đƣa 190.000.000đ cho Đỗ Thị Đ1; Đ1 đƣa 140.000.000đ cho Lê Thị L; Lê Thị L đƣa 130.000.000đ cho Nguyễn Thị L; Nguyễn Thị L đƣa 70.000.000đ cho Trần Thị H. Khoảng giữa năm 2015, bà T trả 80.000.000đ đã giữ lại cho ông H.
Tổng số tiền mà Đỗ Thị Đ1 nhận từ bà T 480.000.000đ; sau khi nhận tiền Đ1 đƣa cho Lê Thị L 370.000.000đ, giữ lại 110.000.000đ tiêu xài cá nhân. Nhƣ vậy, thông qua bà Phạm Thị T thì Đỗ Thị Đ1 đã có hành vi chiếm đoạt 110.000.000đ.
Ngày 05/3/2018, 02/5/2018, 07/5/2018 và ngày 05/7/2018 Đỗ Thị Đ1 tự nguyện nộp tổng 75.000.000đ để khắc phục hậu quả.
8. Đối với Nguyễn Văn K:
Tháng 6/2014, sau khi tiếp nhận thông tin từ Lê Thị Kim A, Nguyễn Văn K tiếp tục đƣa ra thông tin gian dối là “quen biết người có khả năng xin được việc làm, xin đi học” và đƣa ra số tiền chi phí cao hơn, mục đích để giữ lại số tiền chênh lệch tiêu xài cá nhân. Số tiền mà K nhận để xin cho 05 trƣờng hợp là 290.000.000đ, K đƣa Lê Thị Kim A 230.000.000đ, giữ lại 60.000.000đ tiêu xài cá nhân. Khi bị đòi tiền, Kim A trả lại 230.000.000đ, K bỏ thêm 5.000.000đ thành 235.000.000đ rồi trả cho các trƣờng hợp đã đƣa tiền cho K. Nhƣ vậy, Nguyễn Văn K đã có hành vi chiếm đoạt 55.000.000đ, trong đó của trƣờng hợp Hoàng Thị H 35.000.000đ, của trƣờng hợp Phạm Văn D 20.000.000đ.
Từ ngày 06/3/2018 đến ngày 18/4/2018, K đã khắc phục 9.000.000đ cho trƣờng hợp Hoàng Thị H. Ngày 16/4/2019, ngƣời nhà Nguyễn Văn K đã trả cho bà
15
Hoàng Thị H (mẹ của cháu Hoàng Thị H) 20.000.000đ và trả lại cho ông Phạm Văn T (bố của cháu Phạm Văn D) 15.000.000đ; đồng thời, bà Hoàng Thị H và ông Phạm Văn tài có đơn xin bãi nại cho Nguyễn Văn K và không yêu cầu K trả số tiền còn lại.
* Tại Bản Kết luận giám định số 566/PC54, ngày 30/9/2016; số 507/PC54, ngày 16/8/2017; số 57/PC54, ngày 13/12/2017; Số 90/PC54, ngày 24/12/2017; Số 123/PC54 và số 124/PC54, ngày 04/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk xác định: Chữ ký, chữ viết đứng tên Trần Thị H, Nguyễn Thị L, Vũ Minh Đ, Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị N Đ, Lê Thị T, Lê Thị L, Lê Thị Kim A trong các “Giấy biên nhận tiền” mà Cơ quan điều tra thu giữ do chính các đối tƣợng ký và viết ra.
Nhƣ vậy, tổng số tiền Trần Thị H chiếm đoạt 4.588.000.000đ, Nguyễn Thị L chiếm đoạt 5.254.000.000đ (trong đó, Vũ Minh Đ giúp sức cho Nguyễn Thị L chiếm đoạt 897.000.000đ); Lê Thị L cùng Nguyễn Thị L chiếm đoạt 3.905.000.000đ; Lê Thị Kim A cùng Nguyễn Thị L chiếm đoạt 899.000.000đ; Nguyễn Thị N Đ chiếm đoạt 240.000.000 đồng; Lê Thị T chiếm đoạt 170.000.000 đồng; Đỗ Thị Đ1 chiếm đoạt 110.000.000 đồng; Nguyễn Văn K chiếm đoạt 55.000.000 đồng.
II. Về hành vi Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức:
Trong quá trình thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ năm 2011 đến năm 2015 nhƣ đã nêu trên. Năm 2014, một số trƣờng hợp xin đi học đòi lại tiền và do sợ ngƣời xin đi học, xin việc chờ lâu nghi ngờ dễ bị phát hiện nên Trần Thị H đã đến quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh thuê làm giả con dấu của Trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II. Sau đó, Trần Thị H thuê soạn thảo các “Quyết định học viên trúng tuyển vào trường Trung cấp Cảnh sát khóa VI, năm học 2014 – 2015” có tên các trƣờng hợp xin học để in ra rồi tự ký tên Nguyễn Quang Trí (là Hiệu trƣởng Trƣờng trung cấp CSND VI, cơ sở II), và dùng con dấu giả đóng vào rồi đƣa cho Nguyễn Thị L đem đến đƣa cho những ngƣời xin đi học để họ yên tâm chờ và thu thêm tiền.
Cuối năm 2014, một số ngƣời nghi ngờ con dấu trong các Quyết định trúng tuyển là giả. Do vậy, Trần Thị H trực tiếp đến Trƣờng trung cấp CSND VI, cơ sở II, tỉnh Đồng Nai nhờ ngƣời dùng điện thoại (hiện đã bị mất) chụp giấy tờ có chữ ký của Phó Hiệu trƣởng Nguyễn Phấn L có dấu đỏ của nhà trƣờng. Sau đó, H soạn thảo nội dung các Quyết định trúng tuyển học viên, Giấy báo nhập học, T báo nhập học có tên ngƣời xin học, đƣa ra tiệm photocopy ở tỉnh Bình Dƣơng thuê ngƣời đánh máy các Quyết định, các T báo và các Giấy báo rồi scen dấu đỏ và chữ ký của Đại tá Nguyễn Phấn L – Phó Hiệu trƣởng Trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II vào các loại giấy tờ trên, rồi đƣa cho Nguyễn Thị L để đƣa cho những ngƣời xin đi học.
Năm 2015, một số bị hại mang các Quyết định tuyển dụng, Giấy báo, T báo nhập học đến Trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II để nhập học thì phát hiện các
16
giấy tờ trên là giả nên làm đơn tố cáo và giao nộp các giấy tờ này cho Cơ quan điều tra.
Cơ quan điều tra đã thu từ những ngƣời tố cáo và thu giữ trong quá trình khám xét tại nhà Trần Thị H tổng cộng 65 tài liệu, giấy tờ, trong đó có: 08 “Quyết định – Học viên trúng tuyển vào trƣờn trung cấp cảnh sát khóa VI”; 11 “T báo nhập học”; 27 “Giấy báo nhập học”; 19 “Quyết định tuyển dụng học viên vào Trƣờng trung cấp cảnh sát nhân dân VI, cơ sở II”.
- Tại Kết luận giám định số 24/PC54 ngày 10/11/2015 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk thể hiện:
+ Hình dấu tròn có nội dung “BỘ CÔNG AN TRƢỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT NHÂN DÂN VI” trong các tài liệu cần giám định so với mẫu hình dấu tròn có cùng nội dung trong tài liệu mẫu so sánh, là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
+ Chữ ký mang tên Đại tá Nguyễn Phấn L trong các tài liệu cần giám định so với chữ ký đứng tên Đại tá Nguyễn Phấn L trong các tài liệu mẫu so sánh, là không phải do cùng một ngƣời ký ra.
+ Hình dấu tròn có nội dung “TRƢỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT NHÂN DÂN VI CƠ SỞ II” và chữ ký mang tên Nguyễn Quang Trí trong tài liệu cần giám định đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp sao in.
+ Hình dấu tròn có nội dung “BỘ CÔNG AN TRƢỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT NHÂN DÂN VI” và chữ ký mang tên đại tá Nguyễn Phấn L trong các tài liệu cần giám định đƣợc tạo ra bằng phƣơng pháp sao in.
- Tại Bản kết luận giám định số 547 ngày 16/9/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk xác định:
+ Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Hữu H, Nguyễn Thị H, Hoàng Thị Diệu T, Vũ Minh Đ, Phạm Văn T trong các tài liệu cần giám định mà Cơ quan điều tra thu giữ do chính các đối tƣợng ký và viết ra.
+ Chữ số “2014” tại mục “Huyện Lắk, ngày 20/7/2014” trong tài liệu cần giám định bị sửa chữa; Nội dung nguyên thủy là 2013; có cùng màu mực với chữ ký, chữ viết dƣới mục “PHẠM VĂN THỊNH”.
+ Chữ ký đứng tên Nguyễn Phấn L dƣới mục “Ý kiến BGH” trong các tài liệu cần giám định so với chữ ký trong tài liệu mẫu so sánh, là không phải do cùng một ngƣời ký và viết ra.
+ Hình dấu tròn có nội dung “BỘ CÔNG AN TRƢỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT NHÂN DÂN VI” trong các tài liệu cần giám định so với hình dấu có cùng nội dung trong tài liệu mẫu so sánh, là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Nhƣ vậy, Trần Thị H đã có hành vi Làm giả con dấu và 65 tài liệu của cơ quan, tổ chức.
17
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HSST ngày 05/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
[1] Tuyên bố:
Bị cáo Trần Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Bị cáo Nguyễn Thị L, Vũ Minh Đ, Lê Thị L, Lê Thị Kim A, Nguyễn Thị N Đ, Đỗ Thị Đ1, Lê Thị T và Nguyễn Văn K phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm b khoản 2 Điều 267; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Trần Thị H 20 (hai mươi) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tổng hợp hình phạt. Buộc bị cáo Trần Thị H phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 23 (hai mươi ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 16/01/2017.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 16/01/2017.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p, m khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Lê Thị L 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p, m khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Vũ Minh Đ 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p, s khoản 1, 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim A 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/7/2018.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139; điểm p, b khoản 1, 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N Đ 05 (năm) năm
18
tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo đƣợc khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 27/4/2018 đến ngày 08/8/2018.
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p, b khoản 1, 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999:
+ Xử phạt bị cáo Lê Thị T 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Đ1 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 13/3/2019.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 12/7/2019, bị cáo Lê Thị Kim A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
- Ngày 11/7/2019, Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 19/QĐ-VKS-P3, đề nghị giảm hình phạt tù cho bị cáo Vũ Minh Đ.
- Ngày 15/7/2019, bị cáo Vũ Minh Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin đƣợc hƣởng án treo;
- Ngày 16/7/2019, bị cáo Trần Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
- Ngày 18/7/2019, bị cáo Lê Thị T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hƣởng án treo;
- Ngày 18/7/2019, bị cáo Đỗ Thị Đ1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hƣởng án treo. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị xem xét lại khoản tiền 45.000.000 đồng bị cáo đã trả cho bà Phạm Thị T vào cuối tháng 5/2015, nhƣng cấp sơ thẩm cho rằng khoản tiền trên là trả nợ cho những khoản khác không liên quan đến vụ án là không đúng; đồng thời đề nghị hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại vì có nhiều vi phạm tố tụng nghiêm trọng.
- Ngày 19/7/2019, bị cáo Lê Thị L kháng cáo cho rằng hành vi của mình giống nhƣ những ngƣời bị hại, nên đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự, trƣờng hợp cấp phúc thẩm không chấp nhận thì bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hƣởng án treo;
- Ngày 19/7/2019, bị cáo Nguyễn Thị N Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hƣởng án treo. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị xem xét lại khoản tiền 50.000.000 đồng giữa bị cáo với ngƣời bị hại Vũ Thị H, vì bà H khai không đúng sự thật; đồng thời đề nghị hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại vì có nhiều vi phạm tố tụng nghiêm trọng.
19
- Ngày 19/7/2019, ngƣời có quyền lợi, nhĩa vụ liên quan, anh K kháng cáo đề nghị buộc ông N phải trả cho anh số tiền 215.000.000 đồng và lãi suất theo quy định cho anh và yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với N.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lê Thị L xin rút một phần kháng cáo, chỉ xin giảm mức án và xin hƣởng án treo;
- Kiểm sát viên giữ nguyên kháng nghị của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
- Các bị cáo khác và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
* Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, kháng cáo của bị cáo Vũ Minh Đ và kháng cáo của bị cáo Lê Thị Kim A, giảm hình phạt cho các bị cáo Vũ Minh Đ và Lê Thị Kim A. Chấp nhận kháng cáo của ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh K và ghi nhận sự tự nguyện của anh N về nghĩa vụ hoàn trả 215.000.000 đồng cho K. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thị H, Lê Thị L, Nguyễn Thị N Đ, Lê Thị T, Đỗ Thị Đ1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận nhƣ sau: Trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015, bằng thủ đoạn đƣa ra thông tin gian dối có mối quan hệ quen biết rộng nên có khả năng xin vào học tại các Trƣờng của Ngành Công an vào biên chế trong ngành Công an, G dục và Y tế để cho những ngƣời bị hại tin tƣởng giao tiền: Trần Thị H, Nguyễn Thị L, Vũ Minh Đ, Lê Thị L, Lê Thị Kim A, Nguyễn Thị N Đ, Lê Thị T, Đỗ Thị Đ1 và Nguyễn Văn K đã chiếm đoạt tài sản của nhiều ngƣời thông qua hình thức xin đi học tại các Trƣờng của Ngành Công an vào công tác trong Ngành Công an và xin vào làm việc trong Trạm xá xã và làm giáo viên tại một số trƣờng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Ngoài ra, sau khi đã thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt đƣợc tiền để các bị hại, ngƣời trung gian tin tƣởng, chờ đợi và giao thêm tiền, Trần Thị H đã nhờ và tự làm giả con dấu, các Quyết định học viên trúng tuyển, Giấy báo nhập học, T báo nhập học của Trƣờng Trung cấp CSND VI, cơ sở II tại Đồng Nai rồi giao cho bị cáo Nguyễn Thị L, L giao cho các bị cáo khác và ngƣời bị hại, ngƣời liên quan để tạo lòng tin đối với ngƣời bị hại nhằm mục đích tiếp tục chiếm đoạt thêm tiền và kéo dài thời gian phát hiện của cơ quan pháp luật.
Tổng số tiền các bị cáo chiếm đoạt cụ thể nhƣ sau:
20
- Trần Thị H chiếm đoạt 4.588.000.000đ và có hành vi nhiều lần làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; hiện thu giữ đƣợc 65 tài liệu có chữ ký, đóng dấu giả.
- Nguyễn Thị L chiếm đoạt 5.254.000.000đ;
- Vũ Minh Đ (giúp sức cho Nguyễn Thị L) chiếm đoạt 897.000.000đ;
- Lê Thị L (giúp sức cho Nguyễn Thị L) chiếm đoạt 3.905.000.000đ;
- Lê Thị Kim A (giúp sức cho Nguyễn Thị L) chiếm đoạt 899.000.000đ;
- Nguyễn Thị N Đ chiếm đoạt 240.000.000đ;
- Lê Thị T chiếm đoạt 170.000.000đ;
- Đỗ Thị Đ1 chiếm đoạt 110.000.000đ;
- Nguyễn Văn K chiếm đoạt 55.000.000đ.
Với hành vi, hậu quả nêu trên, án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 139 và điểm b khoản 2 Điều 267 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nguyễn Thị L, Vũ Minh Đ, Lê Thị L, Lê Thị Kim A phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nguyễn Thị N Đ đã phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Đỗ Thị Đ1, Lê Thị T và Nguyễn Văn K đã phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999, là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội.
Xét kháng cáo các bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị H, nhận thấy: Bị cáo Trần Thị H bị truy tố, xét xử về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân; và tội: “Làm giả con dấu, tài liệu cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999, có khung hình phạt tù từ 2 năm đến 5 năm. Trong vụ án này, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ xác định bị cáo Trần Thị H là ngƣời chủ mƣu, rủ rê và cùng trao đổi, bàn bạc với các bị cáo để thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo đã chiếm đoạt 4.588.000.000đ, số tiền chiếm đoạt gấp 9 lần mức khởi điểm của khung hình phạt và có hành vi nhiều lần làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; hiện thu giữ đƣợc 65 tài liệu có chữ ký, đóng dấu giả. Do đó án sơ thẩm xử phạt bị
21
cáo 20 (hai mƣơi) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” là không nặng, đúng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhƣng không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hƣởng án treo của bị cáo Vũ Minh Đ và kháng nghị giảm hình phạt cho bị cáo Đ của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, nhận thấy:
Bị cáo Vũ Minh Đ bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk truy tố có hành vi giúp sức Nguyễn Thị L chiếm đoạt số tiền 897.000.000 đồng. Án sơ thẩm đã xem xét bị cáo với vai trò đồng phạm giúp sức, tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, là ngƣời già và xử phạt bị cáo 13 năm tù là có phần nghiêm khắc, chƣa cân đối mức án với các bị cáo khác trong vụ án, nên cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk và kháng cáo của bị cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên bị cáo mới khắc phục đƣợc 2.500.000 đồng, nên mức án cao hơn mức án mà án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Lê Thị Kim A là phù hợp.
Về kháng cáo xin hƣởng án treo nhận thấy: Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 và khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, thì bị cáo Đ không đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, nên không chấp nhận kháng cáo xin hƣởng án treo của bị cáo Vũ Minh Đ.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thị Kim A, nhận thấy: Bị cáo Lê Thị Kim A cũng bị truy tố, xét xử về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Bị cáo Lê Thị Kim A đã tiếp nhận ý chí và là đồng phạm thực hành tích cực với bị cáo Nguyễn Thị L, bị cáo trực tiếp chiếm đoạt 899.000.000đ. Án sơ thẩm đánh giá số tiền bị cáo chiếm đoạt ít hơn bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Thị L. Do đó, xử phạt bị cáo 10 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là không nặng, đúng với tính chất, mức độ, nhân thân và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Tuy nhiên xét thấy, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ số tiền 430.000.000 đồng cho ông Đoàn Xuân T. Do đó cần chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thị T, nhận thấy:
Bị cáo Lê Thị T bị truy tố, xét xử về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, có khung hình phạt tù từ 02
22
năm đến 07 năm; Xét thấy: Trong vụ án này, bị cáo T đã nhận số tiền 1.080.000.000 đồng từ Nguyễn Thị N Đ để xin việc làm, xin đi học cho 05 trƣờng hợp. Sau khi nhận tiền, T đƣa cho Cao Xuân T 910.000.000 đồng; còn lại 170.000.000 đồng bị cáo T chiếm đoạt, tiêu xài hết. Án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhƣ thật thà khai báo, ăn năn hối cải và đã khắc phục đủ số tiền chiếm đoạt, nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù, dƣới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, là phù hợp, không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhƣng không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Ngoài ra bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp “Phạm tội nhiều lần” nên theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, thì bị cáo không đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự.
. Xét kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Đ1, nhận thấy:
- Về phần trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 45.000.000 đồng, bị cáo cho rằng đã trả cho bà Phạm Thị T vào cuối tháng 04/2015, nên cần khấu trừ phần trách nhiệm dân sự trong vụ án này. Tuy nhiên bà Phạm Thị T không thừa nhận mà xác định rằng đây là số tiền bà T nhờ bị cáo Đ1 các trƣờng hợp khác trƣớc đây và các bên đã giải quyết xong không liên quan đến vụ án này; lời trình bày của bà T phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra: “Trƣớc tháng 8/2014 có xin 02 trƣờng hợp khác cho bà T”. Bị cáo kháng cáo nhƣng không xuất trình đƣợc tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh. Do đó không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này.
- Về xin giảm nhẹ hình phạt và xin hƣởng án treo, nhận thấy: Bị cáo Đỗ Thị Đ1 cũng bị truy tố, xét xử về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Trong vụ án này, bị cáo Đ1 đã nhận số tiền 480.000.000 đồng từ Phạm Thị T để xin việc làm, xin đi học cho 03 trƣờng hợp. Sau khi nhận tiền, Đ1 đƣa cho Lê Thị L 370.000.000 đồng; còn lại 110.000.000 đồng bị cáo chiếm đoạt, tiêu xài hết. Án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhƣ thật thà khai báo, ăn năn hối cải và đã khắc phục một phần số tiền chiếm đoạt, nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo 01 năm 05 tháng tù, dƣới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, là phù hợp, không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhƣng không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, nên Hội
23
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Ngoài ra bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp “Phạm tội nhiều lần” nên theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, thì bị cáo không đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự.
. Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thị L, nhận thấy: Căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Thị L và lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Đầu năm 2011, sau khi tiếp nhận thông tin từ Nguyễn Thị L, Lê Thị L đã đƣa thông tin cho nhiều ngƣời là có quan biết với ngƣời có khả năng xin việc làm, xin vào học các trƣờng Công an nhân dân với mức chi phí cao hơn mức Nguyễn Thị L đƣa ra để mục đích chiếm đoạt số tiền chênh lệch. Đến đầu năm 2012, quá hạn nhƣng không xin đƣợc việc làm, xin đi học nên nhiều ngƣời đòi lại tiền; lúc này Nguyễn Thị L không trả tiền mà còn bàn với Lê Thị L tiếp tục nhận tiền của những ngƣời có nhu cầu xin việc, xin đi học, để trả cho những trƣờng hợp đã nhận tiền trƣớc đó. Với hành vi nhƣ vậy, tính đến năm 2015, Lê Thị L đã nhận tổng cộng hơn 06 tỷ đồng rồi đƣa cho Nguyễn Thị L. Khi không xin đƣợc việc, Nguyễn Thị L đã trả lại một phần và còn chiếm đoạt số tiền là 3.905.000.000 đồng. Do đó án sơ thẩm xác định bị cáo Lê Thị L có trách nhiệm cùng Nguyễn Thị L về hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên với vai trò đồng phạm giúp sức là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội, không oan.
Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nêu trên, án sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt 16 năm tù (Bị cáo Nguyễn Thị L bị xử phạt 20 năm tù), là không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhƣng không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N Đ, nhận thấy:
- Về kháng cáo đề nghị xem xét lại số tiền 50.000.000 đồng đối với bị hại Vũ Thị H, nhận thấy: Tại biên bản ghi lời khai ngày 26/12/2017 (BL 943-944), bị cáo Đ thừa nhận số tiền bà H đƣa cho bị cáo là 1.520.000.000, là cao hơn số tiền bà Vũ Thị H khai (bà H xác định đƣa cho bị cáo 1.320.000.000 đồng); đồng thời tại Bản tƣờng trình ngày 08/5/2018 (BL 960-961), bị cáo khai trong số tiền đó bị cáo giữ lại 240.000.000 đồng; sau đó bị cáo trả cho bà H 20.000.000 đồng, đến ngày 04/5/2018 gia đình Đ đã nộp tiếp 220.000.000đồng. Nhƣ vậy án sơ thẩm công nhận số tiền bị hại Vũ Thị H khai và buộc bị cáo hoàn trả là có căn cứ, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo về nội dung này.
- Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hƣởng án treo, nhận thấy: Trong vụ án này, thông qua bà Vũ Thị H, bị cáo Đ nhận 1.320.000.000.đồng; Đ
24
đƣa cho Lê Thị T 1.080.000.000 đồng, còn lại Đ chiếm đoạt số tiền 240.000.000 đồng. Với hành vi, hậu quả trên, án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm; để xử phạt bị cáo 05 năm tù là không nặng, đúng với tính chất, mức độ, nhân thân và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhƣng không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra theo quy định tại khoản 1 Điều 2 và khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, thì bị cáo Đ cũng không đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự.
. Xét nội dung kháng cáo của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh K, nhận thấy: N nhận từ anh K số tiền 320.000.000 đồng để xin cho anh Ksơ Y Ốc đi học; Sau đó N đƣa cho ông Cao Xuân T 220.000.000 đồng, đƣợc ông T cho lại 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, khi nhận và đƣa tiền bản thân N không biết và không ý thức đƣợc hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị cáo trong vụ án; ngày 08/9/2015, Nay y Hàn đã nộp 105.000.000 đồng cho Cơ quan điều tra để trả cho anh K. Do đó các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N là có căn cứ.
Về trách nhiệm bồi thƣờng, xét thấy: Tại phiên tòa, N chấp nhận có trách nhiệm hoàn trả số tiền còn lại là 215.000.000 đồng cho anh K, nên hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của anh N và kháng cáo của anh K.
Đối với yêu cầu tính lãi suất; xét thấy việc anh K đƣa tiền cho N để lo xin đi học, đây là quan hệ không hợp pháp, nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo về tính lãi suất của anh K.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự của các trƣờng hợp khác; về xử lý vật chứng; về án phí sơ thẩm và nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị , Hội đồng xét xử không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Về án phí phúc thẩm:
- Kháng cáo của bị cáo Lê Thị Kim A, Vũ Minh Đ và anh K đƣợc chấp nhận, nên không phải chịu án phúc thẩm.
- Kháng cáo của các bị cáo khác không đƣợc chấp nhận nên phải chịu án phúc thẩm. Tuy nhiên, xét thấy, các bị cáo Trần Thị H, Lê Thị L là ngƣời cao tuổi, bị cáo Đỗ Thị Đ1 thuộc hộ nghèo; Do đó căn cứ Điều 12; Điều 23 Nghị quyết
25
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm về án phí lệ phí Tòa án, miễn toàn bộ án phí phúc thẩm cho các bị cáo.
Từ nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, kháng cáo của bị cáo Vũ Minh Đ và kháng cáo của bị cáo Lê Thị Kim A, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HS-ST ngày 05/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; giảm một phần hình phạt cho bị cáo Đ và bị cáo A. Đồng thời chấp nhận một phần kháng cáo của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh K, sửa án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự theo yêu cầu kháng cáo của anh K.
[2]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thị H, Lê Thị T, Đỗ Thị Đ1, Lê Thị L, Trần Thị N Đ; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HS-ST ngày 05/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đối với các nội dung có liên quan đến các bị cáo.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm b khoản 2 Điều 267; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Trần Thị H 20 (hai mươi) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tổng hợp hình phạt. Buộc bị cáo Trần Thị H phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 23 (hai mươi ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 16/01/2017.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p, m khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Lê Thị L 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p, m khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Vũ Minh Đ 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p, s khoản 1, 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Lê
26
Thị Kim A 8 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/7/2018.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139; điểm p, b khoản 1, 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N Đ 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo đƣợc khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 27/4/2018 đến ngày 08/8/2018.
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 139; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p, b khoản 1, 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999:
+ Xử phạt bị cáo Lê Thị T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
+ Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Đ1 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Trong vụ án những ngƣời có nhu cầu xin việc, xin đi học giao tiền cho những ngƣời bị hại, ngƣời bị hại lại giao tiền cho các bị cáo, các bị cáo lần lƣợt giao cho nhau rồi chiếm đoạt một phần chênh lệch. Do đó, cần buộc các bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho nhau, buộc các bị cáo phải trả cho những ngƣời bị hại; cụ thể.
* Buộc bị cáo Trần Thị H phải trả cho bị cáo Nguyễn Thị L 4.588.000.000đ (Bốn tỷ, năm trăm tám mươi tám triệu đồng).
* Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải trả gồm:
1. Bị cáo Lê Thị L 5.330.000.000đ (Năm tỷ, ba trăm ba mươi triệu đồng);
2. Bị cáo Lê Thị Kim A 1.622.000.000đ (Một tỷ, sáu trăm hai mươi hai triệu đồng);
3. Nguyễn Thị T 10.000.000đ (Mười triệu đồng);
4. Vũ Văn T 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng);
5. Mông Thị N 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng);
6. Nguyễn Thị T H 260.000.000đ (Hai trăm sáu mươi đồng);
7. Phạm Thị T 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng);
8. Phạm Văn T 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng);
9. Trần N 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng);
10.Chu Văn T 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng);
11.Phùng Thị B 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
12. Nguyễn Thị Lệ H 86.000.000đ (Tám mươi sáu triệu đồng);
27
13.Phùng Thị H 720.000.000đ (Bảy trăm hai mươi triệu đồng);
14.Nguyễn Thị T 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng);
15. Trần Thị H 860.000.000đ (Tám trăm sáu mươi triệu đồng).
Trong tổng số tiền bị cáo Nguyễn Thị L phải trả thì bị cáo Vũ Minh Đ liên đới cùng với bị cáo Nguyễn Thị L 897.000.000 đồng (Tám trăm chín mươi bảy triệu đồng).
* Buộc bị cáo Lê Thị L phải trả gồm:
1. Phan Thị N 2.446.000.000đ (Hai tỷ, bốn trăm bốn mươi sáu triệu đồng);
2. Bị cáo Đỗ Thị Đ1 418.000.000đ (Bốn trăm mười tám triệu đồng);
3. Hà A Tuấn 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng);
4. Võ Thị L 95.000.000đ (Chín mươi lăm triệu đồng);
5. Đào Thị T 100.000.000đ, đƣợc khấu trừ số tiền 4.000.000đ tự nguyện khắc phục cho bà T, bị cáo còn phải bồi thƣờng 96.000.000đ (Chín mươi sáu triệu đồng);
6. Đỗ N T 105.000.000đ (Một trăm lẻ năm triệu đồng);
7. Hoàng Thị N 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng).
* Buộc bị cáo Lê Thị Kim A phải trả cho gồm:
1. Ông Đặng Xuân T 430.000.000đ (Bốn trăm ba mươi triệu đồng) ; đã trả đủ (theo giấy nhận tiền ngày 25/7/2019 của ông Đặng Xuân T).
2. Bà Nguyễn Thị G 469.000.000đ (Bốn trăm sáu mươi chín triệu đồng), bị cáo Lê Thị Kim A đƣợc khấu trừ số tiền 469.000.000đ (Bốn trăm sáu mươi chín triệu đồng) mà gia đình đã tự nguyện khắc phục.
* Buộc bị cáo Nguyễn Thị N Đ phải trả cho Vũ Thị H 1.320.000.000đ, đƣợc khấu trừ số tiền 220.000.000đ đã nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra để khắc phục hậu quả. Còn lại bị cáo phải trả cho bà Vũ Thị H 1.080.000.000 đồng (Một tỷ, không trăm tám mươi triệu đồng).
* Buộc bị cáo Lê Thị T phải trả cho: Nguyễn Thị N Đ 1.080.000.000 đồng. Bị cáo T đƣợc khấu trừ số tiền 170.000.000đ gia đình bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả, bị cáo còn phải trả cho Nguyễn Thị N Đ 910.000.000 đồng (Chín trăm mười triệu đồng).
* Buộc bị cáo Đỗ Thị Đ1 phải trả cho Bà Phạm Thị T 480.000.000đ, đƣợc khấu trừ 75.000.000đ đã nộp để khắc phục hậu quả, bị cáo còn tiếp tục phải trả cho bà Phạm Thị T 405.000.000 đồng (Bốn trăm lẻ năm triệu đồng).
28
*Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải trả cho:
1. Bà Hoàng Thị H 35.000.000đ, đƣợc khấu trừ 29.000.000đ (hai mươi chín triệu đồng) đã tự nguyện khắc phục cho bà H, số còn lại bà H có đơn không yêu cầu bị cáo phải trả nên HĐXX không xem xét.
2. Ông Phạm Văn D 20.000.000đ, bị cáo đƣợc khấu trừ 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) đã tự nguyện khắc phục cho ông D, số còn lại ông D có đơn không yêu cầu bị cáo phải trả nên HĐXX không xem xét.
* Ghi nhận sự tự nguyện của anh N có trách nhiệm hoàn trả 215.000.000 đồng cho anh K.
Xét yêu cầu của những ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về việc đề nghị HĐXX buộc những ngƣời bị hại phải trả lại số tiền đã nhận, thấy rằng: Đây là giao dịch trái pháp luật, những ngƣời bị hại trong vụ án không có hành vi gian dối, không có ý thức chiếm đoạt, việc giao nhận tiền xảy ra trong thời gian dài, các thỏa thuận giao, nhận, khấu trừ tiền giữa các bên đối với nhiều hồ sơ xin đi học, xin đi làm nên cần phải giành quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh theo thủ tục dân sự nhằm để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các đƣơng sự cũng nhƣ giải quyết triệt để vụ án. Do đó, cần tách yêu cầu của những ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thành những vụ dân sự tuyên giao dịch vô hiệu khi có đơn khởi kiện, nộp tạm ứng án phí theo quy định.
Ngoài ra, trong vụ án do ông Cao Xuân T đã chết, chƣa xác định đƣợc di sản thừa kế của ông T cũng nhƣ những ngƣời thừa kế di sản của ông T, hơn nữa các bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣời liên quan không yêu cầu ông T phải trả lại số tiền đã nhận nên HĐXX không đặt ra giải quyết mà cần tách yêu cầu của các bị cáo, những ngƣời bị hại, những ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến trách nhiệm dân sự của ông T thành vụ việc dân sự khác.
[4]. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Các bị cáo Trần Thị H, Vũ Minh Đ, Đỗ Thị Đ1, Lê Thị L và Lê Thị Kim A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Thị N Đ , mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Hoàn trả cho anh K 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002527 ngày 29/7/2019 của Cục thi hành án tỉnh Đắk Lắk.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần hình phạt; xử lý vật chứng; về án phí sơ thẩm và nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và đƣợc thi
29
hành theo quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HS-ST ngày 05/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
[6]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Đắk Lắk; - Phòng HSNV - Công an tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSTHAHS - Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tƣ pháp tỉnh Đắk Lắk; - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam CA tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; Ngƣời tham gia tố tụng khác; - Lƣu HSVA, LT. 30 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Tào |