- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Văn Đ - UBND Q 8"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 830/2025/HC-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 402/2026/HC-PT Ngày 16 tháng 4 năm 2026 “V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai thuộc trường hợp thu hồi, bồi thường” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Công
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Hòa Hiệp
Bà Đinh Ngọc Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 16 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 144/2026/TLPT-HC ngày 23 tháng 01 năm 2026 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai thuộc trường hợp thu hồi, bồi thường”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 830/2025/HC-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 471/2026/QĐPT-HC ngày 10 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 35/2026/QĐ-PT ngày 30/3/2026, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1960 – Có mặt;
Địa chỉ: Số 60/8 Bông Sao, phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn Đ (Văn bản uỷ quyền do Phòng công chứng số 2, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 18/11/2025):
- Ông Nguyễn Đỗ Bảo C1, sinh năm 1980 – Có mặt;
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1996 – Có mặt;
Cùng địa chỉ: Số 107A-B Ngô Quyền, phường Chợ Lớn, Thành phố Hồ Chí Minh;
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân Quận 8: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện (Văn bản ủy quyền số 1092/QĐ-UBND ngày 22/8/2025): Ông Hồ Thanh B, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Đông – Vắng mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Lưu Quan Huy Q, Phó Giám Đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng phường Bình Đông (Nguyên Phó Trưởng Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Bình Đông) – Xin vắng mặt;
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1959 – Có mặt;
Địa chỉ: 283/30/47 Bông Sao, phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh;
3.2. Bà Phan Thị C, sinh năm 1967 – Có mặt;
Địa chỉ: 236 Bông Sao, phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh;
3.3. Bà Hứa Thị Trúc P, sinh năm 1969 – Có mặt;
Địa chỉ: Số 133 Bông Sao, phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Nguyễn Văn Đ;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 30/9/2024; Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 14/4/2025 của ông Nguyễn Văn Đ và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của ông Đ trình bày:
Nguồn gốc phần đất trên do cha mẹ của ông Đ là cụ Nguyễn Văn Q và cụ Phan Thị N mua từ bà Nguyễn Thị H vào tháng 11 năm 1969. Trên khu đất lúc đó có cái Miếu nhỏ và gia đình ông tôn tạo, quản lý cho đến ngày nay. Việc cha mẹ ông mua của bà H có nhiều người làm chứng và được thể hiện trong tờ khai Danh dự được Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 8 xác nhận ngày 20/12/1993. Sau khi cha ông chết mới để lại cho ông là người trực tiếp quản lý, sử dụng.
Ngày 13/6/2023, Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 8 tổ chức lấy ý kiến khu dân cư không có mặt ông và từ buổi lấy ý kiến xác định phần đất 44-1 là thuộc sở hữu cộng đồng cư dân.
Ngày 11/01/2024, ông có làm đơn khiếu nại gửi Ủy ban nhân dân Quận 8.
Ngày 04/3/2024, ông nhận được Công văn số 562/UBND-PTNMT với nội dung: “Thửa đất 44-2 diện tích 5,1 m2 thuộc sở hữu của tập thể cộng đồng dân cư được sử dụng trước năm 1993. Thửa đất 44-1 tờ thứ 74 diện tích 36,4 m2 trong đó phía rạch lên 2 m x 4,14 m là thuộc sở hữu của gia đình ông Nguyễn Văn Đ (con cụ Nguyễn Văn Q). Phần diện tích còn lại 28,08 m2 thuộc sở hữu của cộng đồng dân cư. Phần kiến trúc thuộc sở hữu của bà Phan Thị C, toàn bộ diện tích 36,4 m2 đã được sử dụng làm Miếu trước năm 1993. Diện tích xây dựng 34,9 m2 được xây dựng vào năm 2003. Nguồn gốc Miếu được cộng đồng cư dân cư trong khu vực tạo lập từ trước năm 1975...”;
Ông không đồng ý với văn bản trả lời tại Công văn số 562/UBND-PTNMT vì những lý do sau:
- Phần đất trên có nguồn gốc từ cha mẹ ông mua và có xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 8 nên không có cơ sở để xác định phần đất trên thuộc cộng đồng cư dân và cũng không đúng quy định tại Khoản 3 Điều 5 Luật đất đai năm 2013.
- Công văn số 562/UBND-PTNMT xác định: “... Nguồn gốc Miếu được cộng đồng cư dân cư trong khu vực tạo lập từ trước năm 1975...”. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân không nêu được cơ sở.
- Từ năm 1969, sau khi cha ông mua phần đất trên từ bà H thì gia đình ông là người quản lý, tôn tạo nâng cao giá trị của thửa đất. Đồng thời, gia đình ông là người chi trả toàn bộ điện nước sinh hoạt của Miếu.
Vì vậy, có đủ cơ sở xác định phần đất Miếu Ngũ Hành thuộc sở hữu của gia đình ông chứ không phải của cộng đồng cư dân.
Ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, hủy các quyết định hành chính gồm:
- Quyết định số 332/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của Ủy ban nhân dân Quận 8 về phê duyệt phương án điều chỉnh bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Miếu Ngũ Hành để triển khai thực hiện dự án nạo vét trục thoát nước rạch Xóm Củi.
- Quyết định số 333/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của Ủy ban nhân dân Quận 8 về việc điều chỉnh Quyết định 4718/QĐ-UBND ngày 20/9/2023 của Ủy ban nhân dân Quận 8.
- Công văn số 562/UBND-PTNMT ngày 04/3/2024 của Ủy ban nhân dân Quận 8 về thông tin kết quả giải quyết đơn của ông Nguyễn Văn Đ.
Buộc Ủy ban nhân dân Quận 8 xác định đối tượng bị thu hồi đất và được nhận tiền bồi thường đối với thửa đất số 44-1, tờ bản đồ số 74 (BĐĐC năm 2002) có diện tích 36,4 m2 tại địa chỉ 60/8 Bông Sao, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là gia đình ông Nguyễn Văn Đ theo Quyết định số 4718/QĐ-UBND và Quyết định số 4719/QĐ-UBND cùng ngày 20/9/2023 của Ủy ban nhân dân Quận 8.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh có đơn xin vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến.
Ông Lưu Quang Huy Q là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Đề nghị Tòa án giữ nguyên các Quyết định số 332/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của Ủy ban nhân dân Quận 8 về phê duyệt phương án điều chỉnh bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Miếu Ngũ Hành để triển khai thực hiện dự án nạo vét trục thoát nước rạch Xóm Củi; Quyết định số 333/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của Ủy ban nhân dân Quận 8 về việc điều chỉnh Quyết định 4718/QĐ-UBND ngày 20/9/2023 của Ủy ban nhân dân Quận 8; Công văn số 562/UBND-PTNMT ngày 04/3/2024 của Ủy ban nhân dân Quận 8 về thông tin kết quả giải quyết đơn của ông Nguyễn Văn Đ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn A trình bày: Ông là Trưởng khu phố, được bố trí nằm trong ban hoà giải khu phố trong giải quyết tranh chấp khu Miếu Nổi tại đường Bông Sao. Nay ông Nguyễn Văn Đ khởi kiện tại Toà án, vai trò hoà giải trong khu phố của ông không còn liên quan đến tranh chấp và ông không có ý kiến gì. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị C trình bày: Vào năm 2001, bà có sửa sang, cất lại Miếu và thỉnh Mẹ Mẫn về thờ cúng. Tất cả đồ trong Miếu đều do bà mua sắm từ năm 2001 đến nay. Khi Miếu có cúng đều do bà và bà P, bà con cô bác trong hội Miếu lo, chứ gia đình ông Đ không lo. Năm 2023 có dự án làm bờ kè gia đình ông Đ không cho trong hội Miếu cúng nữa, thậm chí đóng và khoá cửa lại. Lúc ba ông Đ còn sống nói miếng đất này của 2 vợ chồng người Tàu bán nhưng chừa lại Miếu vì Miếu không bán được. Khi dự án thực hiện bồi thường bà chỉ yêu cầu lấy lại phần tiền của bà đã bỏ ra xây dựng Miếu, còn nền đất của ông Đ nếu có giấy tờ hợp lệ thì nhận tiền đất đó.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Hứa Thị Trúc P trình bày: Từ năm 2000, bà thường xuyên vào Miếu cúng. Ba của ông Đ có mua đất, trên đất có Miếu nên người bán không bán Miếu mà để lại. Ba ông Đ đồng ý cho bà Phan Thị C thỉnh Mẹ và hàng tháng cúng mẫu cho 5 bà quan âm. Đến năm 2022 giải quyết bồi thường dự án bờ kè thì Uỷ ban, Công an có họp ý kiến của người dân khu phố nhiều lần. Ý kiến của người dân khu phố có bầu ông Đ, bà C và bà làm nhỏ lại Miếu để người dân có chỗ cúng kiếng, tín ngưỡng và ông A là trưởng ban khu phố. Từ ngày lập Miếu ông Đ không ra lo cho Miếu, các ngày cúng ông và gia đình cũng không đến.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 830/2025/HC-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 4 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các tòa án nhân dân; Điều 68, Điều 69 Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Xử :
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Nguyễn Văn Đ gồm các yêu cầu sau:
Hủy Quyết định số 332/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của Ủy ban nhân dân quận 8 (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh) về phê duyệt phương án điều chỉnh bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Miếu Ngũ Hành để triển khai thực hiện dự án nạo vét trục thoát nước rạch Xóm Củi;
Hủy Quyết định số 333/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của Ủy ban nhân dân Quận 8 (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh) về việc điều chỉnh Quyết định 4718/QĐ-UBND ngày 20/9/2023 của Ủy ban nhân dân Quận 8;
Hủy Công văn số 562/UBND-PTNMT ngày 04/3/2024 của Ủy ban nhân dân Quận 8 (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh) về thông tin kết quả giải quyết đơn của ông Nguyễn Văn Đ.
Buộc Ủy ban nhân dân Quận 8 (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh) xác định đối tượng bị thu hồi đất và được nhận tiền bồi thường đối với thửa đất số 44-1, tờ bản đồ số 74 (BĐĐC năm 2002) có diện tích 36,4 m² tại địa chỉ 60/8 Bông Sao, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là gia đình ông Nguyễn Văn Đ theo Quyết định số 4718/QĐ-UBND và Quyết định số 4719/QĐ-UBND cùng ngày 20/9/2023 của Ủy ban nhân dân Quận 8.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hành chính sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/10/2025, người khởi kiện ông Nguyễn Văn Đ có đơn kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Ông Nguyễn Đỗ Bảo C1 (người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn Đ) đề nghị huỷ Bản án sơ thẩm để xét xử lại hoặc sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ;
Bà Nguyễn Thị M (người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn Đ) đề nghị huỷ Bản án sơ thẩm để xét xử lại vì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do không đưa những người thừa kế của cụ Nguyễn Văn Q và cụ Phan Thị N tham gia tố tụng và chưa thu thập đầy đủ chứng cứ, chưa thu thập các tài liệu gốc về nguồn gốc, quá trình hình thành và sử dụng Miếu Ngũ Hành, không thu thập hồ sơ liên quan đến việc thu hồi đất, không tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, không đo đạc áp ranh đất qua các thời kỳ, không xác minh giấy tờ Miếu có phải là cơ sở tín ngưỡng thuộc giáo hội nào không, có tư cách là chủ thể hay không, chưa xác định được đối tượng bị thu hồi đất nhưng đã ban hành quyết định thu hồi đất trong khi Miếu Ngũ Hành chưa có quyết định công nhận là cơ sở tín ngưỡng là không đúng. Hồ sơ có 02 bản vẽ, 01 bản vẽ kèm theo Thông báo số 197 xác định đất là của ông Đ, còn bản vẽ năm 2022 kèm theo Quyết định số 4178 lại xác định thuộc Miếu Ngũ Hành. Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ để xác định bản vẽ nào là đúng nhưng lại căn cứ vào bản vẽ năm 2022 chưa được xác nhận nội nghiệp theo quy định của pháp luật để xét xử là không đúng. Bản án sơ thẩm căn cứ vào văn bản 293 của Ủy ban nhân dân Phường 5 để bác khởi kiện của ông Đ là không đúng vì văn bản này không có tài liệu để chứng minh. Trước đây xác định chủ thể bị thu hồi đất là gia đình ông Đ, nhưng nay Thông báo số 562 lại xác định chủ thể bị thu hồi đất là Miếu Ngũ Hành. Do đó, Quyết định số 332 và Quyết định số 333 đều không đúng pháp luật. Đề nghị chấp nhận kháng cáo, huỷ Bản án sơ thẩm để xét xử lại sơ thẩm.
Các ông, bà: Nguyễn Văn A, Phan Thị C, Hứa Thị Trúc P đều xác định Miếu Ngũ Hành là của cộng đồng dân cư. Khi còn sống, cha của ông Đ nói mua đất của 2 vợ chồng người Tàu họ chừa Miếu ra không bán Miếu.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng hành chính; Đơn kháng cáo hợp lệ về hình thức. Về nội dung đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Phiên tòa được triệu tập hợp lệ lần thứ hai; Các đương sự vắng mặt đều không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, nên theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính thì việc xét xử phúc thẩm vẫn được tiến hành.
Ủy ban nhân dân Quận 8 ban hành Công văn số 562/UBND-PTNMT ngày 04/3/2024 thì vào ngày 30/9/2024 ông Nguyễn Văn Đ khởi kiện là chưa quá 01 năm kể từ ngày nhận được quyết định bị khởi kiện. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết, thời hiệu khởi kiện là đúng theo quy định tại Điều 30, Điều 32, Điều 116 và Điều 193 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Quyết định số 333/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của Ủy ban nhân dân Quận 8 (Sau đây viết tắt là Quyết định số 333) và Quyết định số 332/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của Ủy ban nhân dân Quận 8 (Sau đây viết tắt là Quyết định số 332) được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại điểm a khoản 2 Điều 66, Điều 69 Luật đất đai năm 2013 và Điều 254 Luật đất đai năm 2024.
Tại Văn bản số 293/UBND ngày 29/6/2023 của Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 8 xác định nhà đất của Miếu Ngũ Hành do ông Nguyễn Văn Đ, bà Ngô Thị B và bà Phan Thị C làm đại diện.
Khu đất được cộng đồng dân cư trong khu vực tạo lập làm Miếu từ trước năm 1975, đến năm 1985 cụ Nguyễn Văn Q (chết năm 2015) là cha của ông Nguyễn Văn Đ bồi đắp thêm diện tích 8,32 m² phần đất phía sau và phần sân đất làm Miếu. Đến năm 2003, bà Phan Thị C xây dựng lại Miếu.
Bản đồ hiện trạng vị trí của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên tư vấn thiết kế xây dựng đo đạc Thành Phát lập ngày 07/4/2022 thì phần đất thu hồi thuộc Thửa đất số 44-1, Tờ bản đồ thứ 74-BĐĐC Phường 5, Quận 8 (theo tài liệu năm 2002). Diện tích giải tỏa: Thửa (44-1) diện tích 36,4 m2 bao gồm: Diện tích 28,8 m2 được sử dụng làm đất Miếu từ trước năm 1993. Diện tích 8,32 m2 phần đất phía sau Miếu và phần sân đất, được sử dụng làm đất Miếu từ trước năm 1993.
Phần kiến trúc trên đất giải tỏa: Diện tích sàn xây dựng: Diện tích 34,9 m2 được xây dựng vào năm 2003, không xin phép, không bị xử phạt. Diện tích đất và kiến trúc ngoài ranh giải tỏa. Diện tích đất ngoài ranh giải tỏa: Thửa (44-2) diện tích 5,1 m2 được sử dụng làm đất Miếu từ trước năm 1993. Kiến trúc ngoài ranh giải tỏa: diện tích 5,1 m2 được xây dựng vào năm 2003, không xin phép, không bị xử phạt. Nhà đất hiện nay chưa phát hiện tranh chấp.
Theo tờ đăng ký nhà đất ngày 09/8/1999, cụ Nguyễn Văn Q kê khai đối với Tờ bản đồ số 2L, Thửa đất số 36-57, diện tích 364 m2. Nhà ở: diện tích 172 m2, số tầng 01. Nguồn gốc: do bà Phạm Thị H1 cho. Không thể hiện có Miếu Ngũ hành.
Theo Tờ khai danh dự ngày 05/9/1995 do cụ Nguyễn Văn Q đứng tên khai thì nhà đất số 60/8 Đường Bông Sao, Phường 5, Quận 8 do cụ mua lại của bà Nguyễn Thị H bằng giấy tay, có cấu trúc nhà 30 m x 6 m. Không thể hiện có Miếu Ngũ Hành.
Theo bản vẽ hiện trạng số 56/2020 ngày 07/4/2022 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Tư vấn thiết kế đo đạc Thành Phát thì phần diện tích giải tỏa Miếu Ngũ Hành theo Tài liệu 2002 Thửa 44, Thửa phân chiết 44-1, diện tích 36,4 m2, diện tích còn lại 5,1 m2 thuộc Thửa phân chiết 44-2.
Theo Quyết định số 238/QĐ-UBND ngày 20/6/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 8 thì thành viên Ban quản lý Miếu Ngũ Hành gồm có ông Nguyễn Văn A, bà Phan Thị C, bà Hứa Thị Trúc P. Quyết định số 406/QĐ-UBND ngày 19/9/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 8 thì thành viên Ban quản lý Miếu Ngũ Hành được bổ sung thêm ông Nguyễn Văn Đ, nên việc bà Phan Thị Mơ cho rằng chưa có quyết định công nhận chủ thể Miếu Ngũ Hành là không đúng.
Từ các chứng cứ trên, có cơ sở để xác định: Nguồn gốc nhà, đất của Miếu Ngũ Hành do ông Nguyễn Văn Đ, bà Ngô Thị B, bà Phan Thị C làm đại diện. Khu đất được cộng đồng dân cư trong khu vực tạo lập làm Miếu từ trước năm 1975, đến năm 1985 cụ Nguyễn Văn Q là cha của ông Nguyễn Văn Đ bồi đắp thêm diện tích 8,32 m² phần đất phía sau và phần sân đất làm Miếu. Đến năm 2003, bà Phan Thị C xây dựng lại Miếu. Diện tích giải tỏa: Thửa (44-1) diện tích 36,4 m2. Ông Nguyễn Văn Đ khai mua phần đất trên từ bà Hương, đình ông là người quản lý, tôn tạo nâng cao giá trị của thửa đất, tuy nhiên tại các tờ khai đăng ký nhà đất, tờ khai danh dự của cụ Nguyễn Văn Q không có kê khai đối với phần đất Miếu Ngũ Hành và việc xây dựng lại Miếu vào năm 2003 lại do bà Phan Thị C thực hiện. Do đó, Quyết định số 333/QĐ-UBND ngày 24/1/2025 của Ủy ban nhân dân Quận 8 xác định Miếu Ngũ Hành (Cộng đồng dân cư do thành viên Ban quản lý Miếu Ngũ Hành gồm ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn A, bà Phan Thị C, bà Hứa Thị Trúc P làm đại diện) là có căn cứ. Việc ông Nguyễn Văn Đ cho rằng Miếu Ngũ Hành là của gia đình ông là không có cơ sở.
Như đã nhận định tại mục [4] nêu trên, Miếu Ngũ Hành thuộc Cộng đồng dân cư do thành viên Ban quản lý Miếu Ngũ Hành gồm ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn A, bà Phan Thị C, bà Hứa Thị Trúc P làm đại diện. Do đó, Quyết định số 332/QĐ-UBND ngày 24/1/2025 của Ủy ban nhân dân Quận 8 điều chỉnh từ “Bồi thường hỗ trợ và tái định cư đối với Miếu Ngũ Hành” thành “Bồi thường hỗ trợ và tái định cư đối với Miếu Ngũ Hành (Cộng đồng dân cư do thành viên Ban quản lý Miếu Ngũ Hành gồm ông Nguyễn Văn A, bà Phan Thị C, bà Hứa Thị Trúc P, ông Nguyễn Văn Đ làm đại diện)” là đúng quy định pháp luật.
Như đã phân tích trên, Miếu Ngũ Hành thuộc Cộng đồng dân cư do thành viên Ban quản lý Miếu Ngũ Hành gồm ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn A, bà Phan Thị C, bà Hứa Thị Trúc P làm đại diện nên Công văn số 562/UBND-PTNMT ngày 04/3/2024 của Ủy ban nhân dân Quận 8 có nội dung thông báo không có cơ sở chấp nhận việc ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu xác định gia đình ông Nguyễn Văn Đ mới là đối tượng bị thu hồi đất và được nhận tiền bồi thường đối với thửa đất số 44-1, tờ bản đồ số 74 (BĐĐC năm 2002) có diện tích 36,4 m² là có căn cứ.
Từ các phân tích trên, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm theo đề nghị của Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp;
Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Mơ là người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn Đ có đơn đề ngày 26/3/2026 và đơn đề ngày 10/4/2026 đề nghị Toà án thu thập toàn bộ hồ sơ liên quan đến nguồn gốc, quá trình sử dụng đối với phần nhà đất Miếu Ngũ Hành thuộc Thửa đất số 44-1, Tờ bản đồ số 74 (Tài liệu bản đồ địa chính năm 2002) và tiến hành đo đạc, lập Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh thể hiện vị trí thửa đất qua từng thời kỳ (gồm tài liệu trước năm 1975; Tài liệu 299/TTg; Tài liệu 02/CT-UBND; Tài liệu bản đồ địa chính) để xác định phần nhà đất Miếu Ngũ Hành thuộc Thửa đất số 44-1, Tờ bản đồ số 74 (Tài liệu bản đồ địa chính năm 2002) có nằm trong phần nhà đất gia đình ông Nguyễn Văn Đ đã kê khai, sử dụng đối với Thửa đất số 36-57, Tờ bản đồ số 2L, diện tích 364 m2, địa chỉ 60/8 Bông Sao, Phường 5, Quận 8 hay không.
Nguồn gốc Miếu Ngũ Hành đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định tại Văn bản số 293/UBND ngày 29/6/2023 của Ủy ban nhân dân Phường 5 và phần diện tích đất của Miếu Ngũ Hành bị thu hồi đã được Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Tư vấn thiết kế đo đạc Thành Phát đo đạc lập Bản vẽ hiện trạng số 56/2020 ngày 07/4/2022, bà Nguyễn Thị Mơ không chứng minh được Bản vẽ hiện trạng này không chính xác nên theo quy định tại khoản 6 Điều 83 Luật tố tụng hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không cần thiết phải thu thập các tài liệu theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Mơ;
Do không được chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo phải chịu án phí hành chính phúc thẩm nhưng vì ông Nguyễn Văn Đ là người cao tuổi nên được miễn;
Quyết định của Bản án sơ thẩm về án phí hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 830/2025/HC-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Nguyễn Văn Đ:
- Về yêu cầu hủy Quyết định số 332/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của Ủy ban nhân dân Quận 8 (Nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh) về phê duyệt phương án điều chỉnh bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Miếu Ngũ Hành để triển khai thực hiện dự án nạo vét trục thoát nước rạch Xóm Củi;
- Về yêu cầu hủy Quyết định số 333/QĐ-UBND ngày 24/01/2025 của Ủy ban nhân dân Quận 8 (Nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh) về việc điều chỉnh Quyết định 4718/QĐ-UBND ngày 20/9/2023 của Ủy ban nhân dân Quận 8;
- Về yêu cầu hủy Công văn số 562/UBND-PTNMT ngày 04/3/2024 của Ủy ban nhân dân Quận 8 (Nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh) về thông tin kết quả giải quyết đơn của ông Nguyễn Văn Đ.
- Về yêu cầu hủy buộc Ủy ban nhân dân Quận 8 (Nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bình Đông, Thành phố Hồ Chí Minh) xác định đối tượng bị thu hồi đất và được nhận tiền bồi thường đối với Thửa đất số 44-1, Tờ bản đồ số 74 (Bản đồ địa chính năm 2002) có diện tích 36,4 m² tại địa chỉ 60/8 Bông Sao, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là gia đình ông Nguyễn Văn Đ theo Quyết định số 4718/QĐ-UBND và Quyết định số 4719/QĐ-UBND cùng ngày 20/9/2023 của Ủy ban nhân dân Quận 8.
3. Ông Nguyễn Văn Đ được miễn án phí hành chính phúc thẩm;
4. Quyết định của Bản án sơ thẩm về án phí hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện Công tố và Kiểm sát XXPT VKSNDTC tại TP.HCM; - Tòa án nhân dân TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - THADS TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: HS, VP, TPQ (16b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Công |