vanban.org

Bản án 402/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thuỳ D.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thuỳ D được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 70 ngày 21/5/2012 của Ủy ban dân thị trấn Cái D, huyện CP, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Dung - Tú"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thuỳ D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 402/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 18 - 7 - 2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Bờ;

Bà Nguyễn Thị Thu Sương.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Yến - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 140/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thuỳ D, sinh năm 1988;

Trú tại: Số 45, tổ 02, khóm Vĩnh T, thị trấn Cái D, huyện CP, tỉnh An Giang, (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990;

Trú tai: Tổ 16, ấp Chánh H, xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI D VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2023 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thuỳ D trình bày:

- Về hôn nhân: bà và ông T1 chung sống năm 2006, hôn nhân do tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Cái D, huyện CP, tỉnh An Giang vào tháng 5/2012. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng dần về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, thường hay cãi nhau, ông T1 không quan tâm đến vợ con, nên về lâu dài bà nhận thấy không chịu đựng được nữa, từ đó dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân 09 năm. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng nên bà D yêu cầu ly hôn ông T1.

- Về con chung: Bà D và ông T1 chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Duy Ph, sinh ngày 12/02/2008 đang ở với ông T1; Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 12/5/2014 đang ở với bà D. Ly hôn bà D giao cháu Ph cho ông T1 tiếp tục nuôi, bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Kh, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi cháu Kh và bà D cũng không cấp dưỡng nuôi cháu Ph.

- Về tà i sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T1, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông T1 vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T1

Tại phiên toà:

Bà D có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông T1 vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội D giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thấy rằng hôn nhân của bà D và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà D yêu cầu ly hôn với ông T1 là có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Bà D và ông T1 chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Duy Ph, sinh ngày 12/02/2008 đang ở với ông T1; Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 12/5/2014 đang ở với bà D. Cháu Ph đang ở với ông T1 do ông T1 chăm sóc nuôi dưỡng ổn định nên đề nghị giao cháu Ph cho ông T1 tiếp tục nuôi dưỡng. Cháu Kh đang ở với bà D do bà D chăm sóc nuôi dưỡng ổn định, cháu Kh có nguyện vọng muốn ở với bà D nên đề nghị giao cháu Kh cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T1 không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi cháu Ph, bà D không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi cháu Kh nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn T1 có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xã Bình L, huyện CP. Bà D khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CP thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về nội D vụ án:

- Về hôn nhân: Bà D và ông T1 chung sống với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái D, huyện CP, tỉnh An Giang nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn ông bà có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường hay cải vả và phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, ông T1 không quan tâm lo lắng chăm sóc cho vợ con, vợ chồng đã ly thân 09 năm. Hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà D xin ly hôn với ông T1. Quá trình giải quyết vụ án bà D kiên quyết xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy bà D đã kiên quyết ly hôn, Tòa án đã hòa giải cho ông bà đoàn tụ nhưng ông T1 đều vắng mặt. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D.

- Về con chung: bà D và ông T1 chung sống có 02 con chung Nguyễn Duy Ph, sinh ngày 12/02/2008 đang ở với ông T1; Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 12/5/2014 đang ở với bà D. Xét, từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu Ph ở với ông T1 do ông T1 chăm sóc nuôi dưỡng ổn đinh nên Hội đồng xét xử giao cháu Ph cho ông T1 được trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu Kh đang ở với bà D do bà D chăm sóc nuôi dưỡng ổn định, bà D có yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Kh và cháu Kh cũng có nguyện vọng muốn được tiếp tục ở với bà D nên Hội đồng xét xử giao cháu Kh cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông T1 và bà D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; quyền nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi cháu Kh nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông T1 không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi cháu Ph nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bà D phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thuỳ D.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thuỳ D được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 70 ngày 21/5/2012 của Ủy ban dân thị trấn Cái D, huyện CP, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Duy Ph, sinh ngày 12/02/2008 cho ông Nguyễn Văn T1 được trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung tên Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 12/5/2014 cho bà Nguyễn Thị Thuỳ D được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T1, bà D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà D, ông T1 cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thuỳ D phải chi ̣u 300.000đ (Ba trăm nghin đồng)

̀ án phi Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghin đồng)

́

̀ ta ̣m ứ ng án phí đa nộp theo biên lai thu sỗ

́ 0005360 ngày 09 tháng 3 năm 2023 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyện CP.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ