vanban.org

Bản án 401/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thùy D.

Giao cháu Hà Lê Hoàng A, sinh ngày 06/8/2010 cho chị Lê Thị Thùy D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Lê Thị Thùy D và Hà Minh H"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thùy D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 401/2024/HNGĐ-ST;
Ngày: 04/9/2024.
V/v tranh chấp“Thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thủy Uyên;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Châu Văn Bình;

2. Ông Trương Hoàng Hoa;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thành Khánh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 286/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thùy D, sinh năm 1988;

Địa chỉ: ấp ĐM, xã LBĐ, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

* Bị đơn: Anh Hà Minh H, sinh năm 1985;

Địa chỉ: ấp ĐM, xã LBĐ, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

(Các đương sự có mặt)

NỘI D VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Lê Thị Thùy D trình bày:

Chị và anh Hà Minh H đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự số 173/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Theo quyết định thì anh H được quyền nuôi con là cháu Hà Lê Hoàng A, sinh ngày 06/8/2010. Sau khi ly hôn chị có đến thăm con nhưng anh H ngăn cản và hăm dọa sẽ đánh và chém chị. Chị mua đồ ăn cho con thì anh H không cho con ăn, mỗi lần thăm con chị đều phải đi lén. Ngày 9/5/2024 chị xin rước con về chơi thì cháu A nói muốn sống với mẹ không muốn ở với cha nữa. Do đó chị yêu cầu Tòa án giải quyết

- 2 -

thay đổi người nuôi con, cho chị được trực tiếp nuôi cháu A theo đúng nguyện vọng của cháu A.

Đối với lời trình bày của anh H thì chị không đồng ý. Chị không có hứa mua xe hay điện thoại gì cho con. Chị có chở cái loa hư về vì đó là cái loa của chị mua khi chưa ly hôn. Chị và con hiện đang ở nhà trọ nhưng vẫn đang sống tốt. Nếu chị được quyền nuôi con, chị sẽ dẫn con về nhà mẹ ruột ở Tây Ninh sinh sống ổn định và chữa bệnh cho con. Chuyện cháu A bị bệnh là sau khi ly hôn cháu ở với anh H mới bệnh.

* Bị đơn anh Hà Minh H trình bày:

Anh không đồng ý thay đổi người nuôi con theo yêu cầu khởi kiện của chị D. Cháu A đang ở với anh và cháu đang bị bệnh trầm cảm phải điều trị tại bệnh viện. Anh không có ngăn cản chị D thăm con nhưng do chị D thăm con rồi hứa mua điện thoại, xe cho cháu A khiến cháu phát bệnh, chị D còn lợi dụng việc thăm con chở đồ trong nhà của anh đi. Chị D hiện không có chỗ ở ổn định, chị D đi làm bỏ con ở nhà một mình nên chị D không thể nuôi cháu A tốt. Cháu A ở với anh đang điều trị bệnh mà chị D dẫn con đi khiến việc điều trị sẽ bị gián đoạn.

* Tại phiên tòa, chị D và anh H vẫn nguyên lời trình bày của mình. Cháu A trình bày nguyện vọng muốn được sống với chị D.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội D: Sau khi ly hôn thì cháu Hà Lê Hoàng A sống với anh H. Anh H có điều kiện ổn định về chỗ ở, không có ngược đãi hay hành hạ cháu A nên yêu cầu thay đổi người nuôi con của chị D là không có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn chị Lê Thị Thùy D khởi kiện anh Hà Minh H để yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh H cư trú tại ấp ĐM, xã LBĐ, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy:

- 3 -

Chị D và anh H ly hôn vào năm 2023 theo Quyết định thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 173/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo. Theo quyết định thì anh H được trực tiếp nuôi cháu Hà Lê Hoàng A, sinh ngày 06/8/2010. Chị D yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi cháu A với lý do anh H có hành vi ngăn cản chị thăm nom, chăm sóc con. Hiện nay cháu A đang sống với chị và cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Anh H trình bày anh không ngăn cản chị D đến thăm nom con, cháu A đang bị trầm cảm và đang được điều trị nên không đồng ý thay đổi người nuôi con. Tại phiên tòa, cháu A trình bày trong quá trình sống chung với cha thì cháu không bị bạo hành, nhưng hiện cháu đang sống với chị D và có nguyện vọng được sống với mẹ. Xét thấy, mặc dù trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng cháu A, anh H có nơi ở và thời gian làm việc ổn định, không có hành vi bạo hành cháu A, nhưng về tình cảm, cháu A gắn bó với mẹ và có nguyện vọng được sống với mẹ. Trên thực tế, cháu A hiện đang sống với mẹ từ tháng 5/2024 và tại phiên tòa cháu A tha thiết muốn sống với mẹ. Xem xét toàn diện về mặt kinh tế, tình cảm, nguyện vọng của cháu A và thực tế hiện nay thì Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D, giao cháu Hà Lê Hoàng A, sinh ngày 06/8/2010 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi. Chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Do yêu cầu của chị D được chấp nhận nên anh H phải chịu án phí theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào các điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thùy D.

Giao cháu Hà Lê Hoàng A, sinh ngày 06/8/2010 cho chị Lê Thị Thùy D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.

Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung sau khi ly hôn. .

- 4 -

2. Về án phí: Anh Hà Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm;

Chị Lê Thị Thùy D được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị đã nộp theo biên lai thu số 0007683 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo.

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ