- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hữu - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P L, huyện S S, TP H N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP H N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 401/2022/HS-PT Ngày: 06/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP H N
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Ng Th Nh
Các Thẩm phán:
Ông Ph H C
Ông Ph N Th
Thư ký phiên tòa: Bà Ng Th Hh - Thư ký Tòa án nhân dân TP H N
Đ diện Viện kiểm sát nhân dân TP H N tham gia phiên tòa: Ông Ng Đ Đn - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP H N, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 258/2022/TLPT-HS ngày 24 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo Ng V H do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2022/HSST ngày 24/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện S S, TP H N.
Bị cáo bị kháng cáo:
Ng V H, sinh năm 1981; giới tính: nam; nơi cư trú: tập thể 228, khối 14, xã P L, huyện S S, TP H N; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ng V L và bà Ng Th Đ1; có vợ và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Bị hại có kháng cáo: Anh Đ Q D, sinh năm 1971; nơi cư trú: thôn Q H, xã Q T, huyện S S, TP H N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 23/3/2021, Ng V H cùng anh Đ Q D, anh Ng V Đ và anh Ng Th R uống bia ở quán bia T L trên đường 131, thôn Đ T, xã M Đ, huyện S S, TP H N. Quá trình uống bia, giữa anh D và H xảy ra mâu thuẫn nên H đã dùng tay phải cầm cốc uống bia làm bằng thủy tinh đập vào giữa đỉnh đầu anh D khiến anh D bị chảy máu đầu và ngã ra đất. Sau đó, anh D được anh R đưa vào nhà anh V để anh V đưa đến bệnh viện đa khoa S S khám và điều trị.
Tại biên bản hồi 09 giờ 30 ngày 24/3/2021, Bệnh viện đa khoa S S xác định thương tích của anh D như sau: “Bệnh nhân vào viện lúc 19 giờ 30 ngày 23/3/2021 trong tình trạng tỉnh, tiếp xúc tốt. có một vết thương vùng đầu kích thước (3 x 0,5) cm sắc nhọn, sưng nề sau tai trái, đầu gối trái không bầm tín. Ngoài ra chưa phát hiện tổn thương khác”.
Tại hồ sơ bệnh án của anh Đ Q D tại Bệnh viện đa khoa S S xác định:
"Bệnh nhân vào viện ngày 23/3/2021, ra viện ngày 26/3/2021.
Tiền sử bệnh: Bản thân bình thường - Gãy răng 2.1, 2.2, 1.1, 1.2.
Tại chỗ: vết thương đầu khoảng (3 x 0,5) cm. Sưng nề sau tai trái. Đau gối trái, không bầm tỉm.
Cận lâm sàng: cắt lớp vi tính gối trái ngày 25/3/2021 - Hình ảnh thoái hóa khớp gối trái. Hiện tại không thấy hình ảnh tổn thương xương khác trên phim cắt lớp vi tính”.
Tại bản kết luận pháp y thương tích số 630 ngày 09/6/2021 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế TP H N kết luận:
“Sẹo vết thương vùng đỉnh: 02%
Đứt bán phần đây chằng chéo trước 1/3 trên: 11%
Chạm thương phần mềm vùng sau tai trái không còn sưng nề bầm tím: Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không có chương mục nào quy định cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với chạm thương này.
Tổn thương gãy các răng cửa hàm trên bệnh nhân khai do vụ việc ngày 23/3/2021 gây nên. Tuy nhiên tại Bệnh án ngoại sổ vào viện 12017 của Bệnh viện Đa khoa S S chỉ ghi nhận gãy các răng là tiền sử từ trước nên không có căn cứ để cho điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe đổi với tổn thương này. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S S xác minh làm rõ, giám định bổ sung sau nếu có căn cứ.
Nhiều khả năng các thương tổn do vật tày, tày có cạnh gây nên.
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 13%”.
Tại Công văn số 624 ngày 27/10/2021 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế TP H N về việc làm rõ nội dung liên quan đến Bản kết luận pháp y thương tích số 630/TTPY ngày 09/6/2021 xác định:
"Kỹ thuật chụp XQ và cắt lớp vi tính chỉ đánh giá các tổn thương trên xương mà không đánh giá được các tổn thương trên các mô mềm trong cơ thể (như gân, cơ, dây chằng).
Trong trường hợp đứt dây chằng chéo trước gối trái trong những ngày đầu vẫn cỏ thể vận động đi lại nhẹ nhàng nhưng có hạn chế nhất định.
Trên phim chụp MRI gối trái của anh Đ Q D có hình ảnh: Đứt bán phần dây chằng chéo trước 1/3 trên và phù tủy xương. Đây là dấu hiệu của chấn thương do tác dụng của lực, không phải là dấu hiệu bệnh lý thái hóa khớp. Kết quả Hội chẩn đã xác định tổn thương này phù hợp với chấn thương ngày 23/3/2021".
Tại Cơ quan điều tra, bị hại Đ Q D khai: Tại quán bia, H cầm cốc bia đập vào đỉnh đầu của anh D, anh D chạy ra phía đầu bàn, được khoảng 2 mét thì anh D ngã gục, H đuổi kịp rồi đấm, đạp liên tục vào sau gáy, mồm cũng như đạp ghì vào chân anh D khiến anh D không chống cự được và gãy 4 răng giả. Sau đó, mọi người can ngăn và anh D được đưa đến Bệnh viện đa khoa S S điều trị. Do đau khớp gối trái nên khi vào Bệnh viện đa khoa S S, anh D đã được chỉ định chụp cắt lớp nhưng không phát hiện tổn thương. Sau khi điều trị nội trú tại bệnh viện S S được 4 ngày, tình trạng ở gối của anh D đau hơn nên anh được hướng dẫn ra số 107 phố T Đ Th chụp cộng hưởng từ để biết tình trạng bệnh nhưng anh D chưa có điều kiện đi ngay. Ngày 11/5/2021, theo hướng dẫn của Cơ quan giám định thương tích, anh D tới Trung tâm chẩn đoán hình ảnh 178 Th H chụp và nhận kết quả bị đứt bán dây chằng chéo gối trái trước. Sau đó, anh D đã xin giấy chuyển tuyến từ Bệnh viện đa khoa S S đến bệnh viện V Đ để mổ chấn thương đứt dây chằng chéo. Sau này anh D thay đổi lời khai, tại quán bia, anh D không tự ngã mà do H đuổi theo, đạp thẳng vào khoeo chân trái khiến anh D cảm giác đau nhói chân trái và ngã khuỵu xuống, đầu gối chân phải chống xuống đất, chân trái duỗi. Sau đó, H giật tóc anh D ngược ra sau, đánh vào sau đầu, đạp ghì vào chân anh D làm anh D khanh chống cự được, chỉ ôm đầu.
Quá trình đỉều tra, bị can Ng V H chỉ thừa nhận mình có hành vi dùng cốc bia thủy tinh ném gây thương tích cho vùng đầu của anh D. Sau khi H ném cốc bia vào đầu anh D, anh D cúi xuống cầm cốc bia gọi H tới nói chuyện nhưng H không tới. Đối với thương tích gãy răng của anh D, H khai đây là răng giả nên có thể rơi ra trong quá trình xảy ra vụ việc. H khẳng định thương tích đứt bán phần dây chằng chéo trước 1/3 trên của anh D không phải do H gây ra.
Anh Ng V Đ và anh Ng Th R là những người chứng kiến khai: H có hành vi dùng cốc bia ném vào đầu anh D. Anh R khai: Sau khi H cầm cốc bia ném vào đầu D, H có tiến lại gần anh D, xô anh D khiến anh D ngã, hai tay chống xuống đất, H dùng tay phải đấm vào mặt anh D, sau đó anh D có vùng dậy được và cầm cốc bia dọa ném H nhưng mọi người can ngăn và đưa về nhà anh V. Anh Đ khai: H chỉ dùng cốc đập vào đầu anh D, H không dùng tay đánh, không xô đẩy và không có hành động gì khác với anh D.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Ng V H thừa nhận ngày 23/3/2021 đã dùng cốc bia thủy tinh đập vào đầu anh D, sau đó dùng tay đấm vào vùng đầu làm anh D ngã. Bị cáo cũng thừa nhận thương tích tại vùng đầu và thương tích đứt bán phần dây chằng chéo trước 1/3 trên gối trái của anh D là do bị cáo gây ra. Bị cáo chấp nhận yêu cầu bồi thường của bị hại.
- Bị hại Đ Q D yêu cầu bị cáo bồi thường 75.000.000 đồng, xác nhận bị cáo đã bồi thường 55.000.000 đồng. Đồng thời đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2022/HS-ST ngày 24/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện S S, TP H N đã quyết định:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Ng V H 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn buộc bị cáo bồi thường bị hại 20.000.000 đồng, quyết định án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/02/2022, bị hại Đ Q D kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho anh Đ Q D theo quyết định của bản án sơ thẩm.
- Anh Đ Q D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Anh D cho rằng bị cáo chưa ăn năn, hối cải, trước khi xét xử anh D phải chịu nhiều áp lực, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có biểu hiện thách thức. Anh D xác nhận bị cáo đã bồi thường nốt số tiền 20.000.000 đồng.
- Quan điểm của Đ diện Viện kiểm sát nhân dân TP H N:
Kháng cáo của anh Đ Q D trong thời hạn luật định nên được chấp nhận về hình thức.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm đủ căn cứ khẳng định bị cáo thực hiện hành vi như bản án sơ thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Ng V H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Cấp sơ thẩm quyết định mức hình phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo.
Xét nguyên nhân xảy ra vụ án thì bị hại cũng có phần lỗi, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã bồi thường nốt số tiền 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại cho rằng bị cáo chưa hối cải, khi xét xử sơ thẩm bị hại chịu tác động nên có nhiều áp lực nhưng không nêu được căn cứ cụ thể.
Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Ng V H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật.
Trên cơ sở hành vi phạm tội của bị cáo mang tính bột phát, mức tổn hại sức khỏe của bị hại là 13%, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 24 tháng tù và cho hưởng án treo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Bị hại Đ Q D kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo với lý do trong quá trình xét xử sơ thẩm anh D chịu nhiều tác động nên bị áp lực, bị cáo chưa ăn năn, hối cải mà còn thách thức, đe dọa. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, anh D không đưa ra được các căn cứ cụ thể chứng minh. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của anh Đ Q D.
Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Ng V H 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P L, huyện S S, TP H N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
2. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Tp. H N; - TAND huyện S S; - VKSND huyện S S; - Canh an huyện S S; - Chi cục THADS huyện S S; - Bị cáo, bị hại; - Lưu HSVA; VP; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ng Th Nh THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |