vanban.org

Bản án 400/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị D.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Dương Thị D và ông Nguyễn Văn V. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Vũ Dương, sinh ngày 06/4/2007; cháu Nguyễn Trọng Nguyễn, sinh ngày 26/7/2009 cho bà Dương Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị D - Nguyễn Văn V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 400/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 12 - 2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Quang Minh

Ông Bùi Xuân Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 13 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 708/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 411/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dương Thị D, sinh năm 1976 (Xin vắng mặt);

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1976 (Vắng mặt);

Cùng cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2023, nguyên đơn bà Dương Thị D trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn V chung sống với nhau vào năm 1998, có tổ chức hôn lễ theo phong tục truyền thống nhưng không đăng ký kết hôn. Do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được. Do không còn tình cảm với ông V nên bà yêu cầu được ly hôn với ông V.

- Về con chung: Vợ chồng có ba người con chung tên Nguyễn Thị Tím, sinh ngày 16/8/1999; Nguyễn Vũ Dương, sinh ngày 06/4/2007; Nguyễn Trọng Nguyễn, sinh ngày 26/7/2009.

Đối với cháu Nguyễn Thị Tím: Do cháu Tím đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với cháu Nguyễn Vũ Dương và Nguyễn Trọng Nguyễn: Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng; không yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn V: Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông V để tham dự phiên tòa nhưng ông V không có mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông V về các nội dung khởi kiện của bà D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Dương Thị D có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà không có mặt tại phiên tòa. Do đó căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà D và ông V.

Về hôn nhân: Bà Dương Thị D và ông Nguyễn Văn V chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1998, mặc dù có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nhưng không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do đó, căn cứ vào các Điều 9, 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà D và ông V.

Về con chung: Vợ chồng có ba người con chung tên Nguyễn Thị Tím, sinh ngày 16/8/1999; Nguyễn Vũ Dương, sinh ngày 06/4/2007; Nguyễn Trọng Nguyễn, sinh ngày 26/7/2009.

Đối với cháu Nguyễn Thị Tím: Do cháu Tím đã thành niên, đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với cháu Nguyễn Vũ Dương, cháu Nguyễn Trọng Nguyễn: Khi ly hôn, bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con. Xét thấy, bà D xác định có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng cháu Dương, cháu Nguyễn; cháu Dương, cháu Nguyễn có nguyện vọng được sống với mẹ là bà D; ông V không có ý kiến đối với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Dương, cháu Nguyễn của bà D. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu Dương, cháu Nguyễn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D giao cháu Dương, cháu Nguyễn cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Bà D xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do không ghi nhận được ý kiến của ông V về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này đương sự có yêu cầu giải quyết thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Về nợ chung: Bà D xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do không ghi nhận được ý kiến của ông V về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này đương sự có yêu cầu giải quyết thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn bà D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 14, 53, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị D.

- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Dương Thị D và ông Nguyễn Văn V.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Vũ Dương, sinh ngày 06/4/2007; cháu Nguyễn Trọng Nguyễn, sinh ngày 26/7/2009 cho bà Dương Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Dương, cháu Nguyễn mà không ai được cản trở. Ông V có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu Dương, cháu Nguyễn được sống chung với bà D.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

2. Án phí: Bà Dương Thị D phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 24/10/2023 bà D đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004894 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được đối trừ chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Dương Thị D, bị đơn ông Nguyễn Văn V có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ