vanban.org

Bản án 400/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 27/12/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/12/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn Đ Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HSST ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Đ trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 400/2018/HSPT
Ngày 27 – 12 – 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Triết

- Các thẩm phán: Ông Văn Công Dần

- Các thẩm phán: Bà Trần Thị Phượng

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 383/2018/TLPT-HS ngày 03/12/2018 đối với bị cáo Hoàng Văn Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HSST, ngày 16/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

HOÀNG VĂN Đ, sinh năm: 1976, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã R, huyện S, tỉnh Đắk Lắk ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Con ông: Hoàng Văn T (đã chết) và bà Lê Thị C, sinh năm 1940; bị cáo có vợ là Cao Thị G, sinh năm 1977 và 02 con: Con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2004.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Lê Thị H; sinh năm 1960; trú tại: Thôn V, xã R, huyện S, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/5/2018, Hoàng Văn Đ đi bộ đến nhà bà Lê Thị H chơi. Khi đến nhà bà H, thấy không có người ở nhà nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đ đi vào trong phòng ngủ, thấy trên giường có 01 chiếc gối bằng vải, trong gối cộm nên Đ nghĩ bên trong có tiền. Đ thò tay vào trong gối lấy ra một túi nilon, bên trong túi có rất nhiều tiền nhưng Đ chỉ lấy 02 xấp tiền, số tiền còn lại Đ để lại vào trong gối như vị trí ban đầu rồi ra về, về đến nhà Đ mang ra đếm được số tiền 20.000.000 đồng. Bà Lê Thị H sau khi phát hiện mất tiền nên đã trình báo cơ quan Công an. Ngày 19/5/2018, Hoàng Văn Đ đã tự nguyện đến nhà bà Lê Thị H thừa nhận hành vi trộm cắp và trả lại số tiền 19.000.000 đồng.

Ngoài ra Hoàng Văn Đ còn khai nhận: Trước đó vào khoảng tháng 9/2017 (không nhớ rõ ngày) lợi dụng sơ hở của gia đình bà H, Đ đã vào nhà lấy trộm số tiền 4.000.000 đồng.

Ngày 29/8/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp ra quyết định xử lý vật chứng số 28/2018 trả lại cho bà Lê Thị H là chủ sở hữu hợp pháp số tiền 19.000.000 đồng.

Trong quá trình diều tra, Hoàng Văn Đ đã bồi thường cho bà Lê Thị H số tiền 4.000.000 đồng. Bà H đã bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HSST ngày 16/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự.

Ngày 25/10/2018 bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu cũng như lời khai của của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra và vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra; các tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ, tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới, do đó đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng tháng 9 năm 2017 và ngày 27/5/2018, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình bà Lê Thị H với tổng giá trị tài sản của hai lần bị cáo trộm cắp được là 24.000.000 đồng. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Ea Súp đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo HĐXX thấy rằng: Mức hình phạt 09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra. Khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 51 do đó theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, bị cáo thuộc trường hợp không được hưởng án treo. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo là không có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận đơn kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn Đ

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HSST ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 09 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ